Vẫn những trò sách nhiễu hèn hạ của công an Việt Nam!

 

Đỗ Nam Hải

Trước và sau ngày 30/4/2012, một nhóm công an 6 người đã 4 lần chặn bắt tôi dọc đường. Sáu người này gồm 3 người vẫn đêm ngày đeo bám tôi, còn 3 người nữa là của công an Phú Nhuận. Đó là các ngày: 25, 26, 27/4 và 3/5/2012. Sau khi chặn bắt, họ đưa tôi về Trụ sở công an Q. Phú Nhuận rồi tạm giữ tôi trái phép tổng cộng 30 tiếng đồng hồ. Tại đây, tôi phải đối diện với 5-6 viên công an khác nhiều tuổi hơn, cấp bậc cũng cao hơn so với những cậu công an chặn bắt tôi, thường có độ tuổi từ 25 đến 40.

Sự hèn hạ của công an Việt Nam

Trước đó, ngày 24/4/2012, một đại úy công an khu vực đến nhà đưa cho tôi tờ Giấy mời, với nội dung: mời ông Đỗ Nam Hải đúng 8 giờ sáng ngày 25/4/2012 có mặt tại Trụ sở công an quận Phú Nhuận, số 181 Hoàng Văn Thụ, P.8, Q. Phú Nhuận để “Làm việc một số vấn đề liên quan đến ông”. Người ký là ông Đoàn Duy Thanh, thượng tá, Phó trưởng công an Q. Phú Nhuận. Tôi đã viết vào cả 2 liên, 1 liên tôi giữ lại và 1 liên để công an mang về, với cùng nội dung như sau: “Đã nhận nhưng tôi phản đối nội dung Giấy mời này và cương quyết không đi làm việc!”.

Ông Đoàn Duy Thanh là người mà vào chiều ngày 7/4/2006 đã đến nhà tôi cùng với một thuộc cấp. Họ đã niêm phong chiếc máy tính của tôi, sau khi tìm thấy trong đó bản dự thảo “Tuyên ngôn dân chủ Việt Nam” (sau này là Tuyên ngôn 8406) mà tôi đã gửi đi qua mạng Internet cho 8 người đấu tranh dân chủ trong nước, vào buổi sáng cùng ngày. Lúc đó, ông Thanh là trung tá, Phó ban An ninh nhân dân – Công an quận Phú Nhuận.

Họ nói:

Theo đúng nguyên tắc thì chúng tôi vẫn phải lập biên bản về những nội dung sẽ làm việc với anh. Chúng tôi có in ra đây một số đầu tài liệu đã đăng tải trên mạng Internet. Đó là những bản văn của Khối 8406 mà anh có tên trong Ban điều hành và một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn của anh gần đây là:

+ Tuyên bố của Khối 8406 nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập (8/4/2006 – 8/4/2012).
+ Tuyên bố của Khối 8406 về quyền tư hữu ruộng đất tại Việt Nam.
+ Cảm xúc mùa xuân. (Đỗ Nam Hải)
+ Kỹ sư Đỗ Nam Hải trả lời phỏng vấn Đài Sài Gòn Network.
+ v.v…

Vậy đề nghị anh cho biết: với những bản văn của Khối 8406 trên đây thì anh tham gia đến đâu và các vị khác trong Ban điều hành Khối 8406 tham gia đến đâu? Với những bài đứng tên anh thì có đúng là của anh không hay là của ai khác mạo danh chăng?

Tôi nói:

Trước khi sai người chặn bắt trái phép và đưa tôi về đây thì các ông cũng thừa biết là tôi không bao giờ thèm trả lời những câu hỏi nhố nhăng, nhảm nhí này của các ông. Đây không phải là lần đầu mà là hàng trăm lần như thế này rồi, và các ông đều luôn nhận được kết quả bằng nhau và bằng 0. Ấy vậy mà các ông vẫn cứ làm. Điều đó chỉ có một cách giải thích: Đảng và cấp trên của các ông bao năm qua đã sai các ông bằng mọi cách, dù là hèn hạ nhất để hành hạ tôi cả về tinh thần, vật chất lẫn thể xác. Họ hy vọng rằng, với những thủ đoạn đàn áp không ngừng nghỉ như thế thì cuối cùng tôi cũng sẽ nản chí và từ bỏ lý tưởng đấu tranh dân chủ của mình. Vậy thì một lần nữa tôi khẳng định: họ đã thất bại, đang thất bại và sẽ tiếp tục thất bại!

Họ nói:

Những việc anh làm, thực tế có đến đâu thì nhận đến đấy chứ chúng tôi có bắt ép anh phải nhận quá lên đâu. Mình dám làm thì mình dám chịu, chứ anh sợ hay sao mà không dám nhận?

Tôi cười:

Chúng ta quá hiểu nhau rồi và do đó, tôi không lạ gì cái trò khích bác này của các ông. Tôi nói để các ông biết rằng: khi cần thiết thì dù đó là việc làm mà các ông có thể quy cho là “tội tày đình” song tôi vẫn dám nhận. Nếu không tin, các ông cứ đi hỏi ông Đoàn Duy Thanh, đồng nghiệp của các ông vào chiều ngày 7/4/2006 tại nhà tôi sẽ rõ. Chứ nội dung mấy câu hỏi vừa rồi của các ông chẳng là cái “đinh” gì mà tôi không dám nhận.

Vì vậy, vấn đề ở đây không phải là chuyện dám hay không dám nhận, mà là: nếu tôi chấp nhận trả lời hoặc ký vào những Biên bản làm việc do các ông lập ra, tức là tôi đã mặc nhiên công nhận việc các ông chặn bắt rồi đưa tôi về đây là đúng luật. Không, tôi cần phải vô hiệu hóa việc làm phi pháp này của các ông cũng như bao năm qua, tôi đã vô hiệu hóa 6 Quyết định của các ông về “Xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp và sử dụng Internet”. Bằng cách là tôi không chấp nhận đóng phạt dù chỉ 1 đồng, với tổng số tiền phạt là 91,5 triệu đồng.

Họ nói:

Nếu anh cứ sống và làm việc theo Hiến pháp và luật pháp Việt Nam như bao người khác thì chúng tôi mời anh về đây làm gì. Anh có bao giờ tự hỏi mình là tại sao cả nước có gần 90 triệu dân nhưng chúng tôi chỉ mời anh và một số người như anh về đồn hoặc về trại giam không? Chúng tôi là công cụ của bộ máy chuyên chính vô sản, là thanh kiếm và lá chắn để bảo vệ chế độ. Vì vậy, Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ cho chúng tôi là phải trấn áp bất cứ ai, bất cứ thế lực phản động thù địch nào vi phạm pháp luật, hô hào lật đổ chế độ này. Hãy suy nghĩ lại đi anh Hải ơi, quay đầu là bờ!

Tôi nói:

Các ông thuộc bài gớm nhỉ! Nhưng tôi đề nghị các ông hãy bình tĩnh, chớ nên đao to búa lớn như vậy. Vậy tôi hỏi nhé: các ông vẫn thường tự hào rằng mình là công cụ sắc bén của bộ máy chuyên chính vô sản, luôn “quán triệt sâu sắc” đường lối chính sách của Đảng các ông. Nhưng trong số các ông ngồi đây, có ai không cần dùng sự trợ giúp của sách báo mà nói ngay được 2 chức năng và 6 nhiệm vụ của chuyên chính vô sản là gì không? Có ai nhớ được đường lối của 11 kỳ Đại hội của Đảng các ông hay không? Rõ ràng là không có ai, đúng không? Là tôi hỏi vậy không có ý gì khác mà chỉ muốn nhắc nhớ rằng: với tôi, các ông không nên đem những “bài vở” ấy ra đây mà khoe khoang hay hù dọa làm gì!

Trở lại với câu nói của các ông vừa rồi:

Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ cho chúng tôi là phải trấn áp mạnh mẽ bất cứ ai, bất cứ thế lực phản động thù địch nào vi phạm pháp luật, hô hào lật đổ chế độ này.

Với cách quy chụp tùy tiện như vậy, bao năm qua các ông đã vâng lệnh Nhà cầm quyền để đẩy biết bao người đấu tranh dân chủ chúng tôi vào đồn và vào tù. Đây là những tội ác tày trời mà Đảng cộng sản Việt Nam đã giao cho lực lượng công an các ông gây ra đối với đất nước và dân tộc. Nhưng có bao giờ các ông tự hỏi mình rằng: tại sao đến nay, khi mà miền Bắc đã “giải phóng” được gần 60 năm và cả nước cũng đã “thống nhất” được gần 40 năm, như cách tuyên truyền quen thuộc. Song cái bọn “vi phạm pháp luật” và “phản động, thù địch” kia chẳng những không hề giảm đi mà lại ngày càng tăng lên không?

Họ nói:

Thì tại vì đất nước ta đã phải trải qua 30 năm dài chiến tranh, với 2 cuộc chiến rất khốc liệt. Dân tộc ta đã phải chiến đấu với 2 tên thực dân, đế quốc đầu sỏ nhất trên thế giới!

Tôi nói:

Điều mà các ông muốn biện minh vừa rồi, nếu là 10–15–20 năm đầu sau chiến tranh thì còn khả dỹ, nhưng bây giờ là năm 2012 rồi mà vẫn cứ nói như vậy là không chấp nhận được. Nhưng tôi cũng biết là công an các ông trong đầu có thể nghĩ khác song trước mặt chúng tôi thì lại phải nói khác. Vậy thì tôi nói: bằng việc thiết lập nên một chế độ độc đảng toàn trị ở miền Bắc, sau ngày 20/7/1954 và cả nước, sau ngày 30/4/1975 thì chế độ ấy đã thẳng tay bóp chết bằng bạo lực ngay từ trong trứng nước mọi sự ra đời của các đảng phái khác.

Với một chính trường không chấp nhận sự cạnh tranh cũng đồng nghĩa với việc thủ tiêu một luật chơi công bằng tại đó, đã tạo điều kiện cho cho Đảng cộng sản Việt Nam nắm được một thứ quyền lực cai trị tuyệt đối. Đó chính là nguyên nhân gốc làm nảy nòi ra một bộ máy cầm quyền cực kỳ hư hỏng và tham nhũng. Bởi một lẽ đơn giản: Quyền lực tuyệt đối dẫn tới sự tha hóa tuyệt đối! Hậu quả là đất nước bị tụt hậu, dân tộc bị điêu linh. Những mối quốc nạn và quốc nhục của dân tộc Việt Nam hôm nay chính là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái bản chất bên trong: một chế độ chính trị bảo thủ, lạc hậu và thối nát!

Chế độ ấy đã vi phạm nghiêm trọng những quyền tự do căn bản của con người và vi phạm luôn cả Hiến pháp, luật pháp Việt Nam. Chế độ ấy dứt khoát không thể chọn ra được những con người có đủ phẩm chất, năng lực và những lực lượng chính trị tốt nhất trong mỗi giai đoạn để lãnh đạo đất nước. Vì vậy, không phải là những người đấu tranh chúng tôi mà chính những người cầm quyền trong Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay mới cần phải sớm nhận thức ra được những sai lầm, tội lỗi của họ đối với đất nước và dân tộc để quay đầu vào bờ!

Những năm qua, mặc dù chịu nhiều sự đàn áp từ phía các ông, nhưng các ông cũng không phải là đối tượng để tôi căm thù mà  là đối tượng để tôi thuyết phục. Hãy nhớ rằng: với tình hình đất nước ngày càng đi xuống như hiện nay thì bản thân các ông và gia đình mình cũng sẽ trở thành nạn nhân của chính chế độ này!

Họ nói:

Anh có suy nghĩ gì về vụ Tiên Lãng, Văn Giang gần đây?

Tôi nói:

Kỷ sư Đỗ Nam Hải

Những vụ cưỡng chế đất đai của nông dân đã và đang diễn ra gần đây như: Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định, Dương Nội – Hà Nội,… cho thấy: đó là những sản phẩm của sự liên minh ma quỷ giữa những kẻ cầm quyền độc ác và những nhóm lợi ích tham tàn, từ trung ương xuống tới các địa phương. Quyền tư hữu tài sản của người dân được bảo đảm bởi Hiến pháp năm 1946 đã bị đánh tráo rất bất lương thành quy định: “đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện và thống nhất quản lý” trong Hiến pháp hiện hành. Việc những người nông dân Việt Nam đang dần bị mất đất khắp từ Bắc chí Nam cũng từ đó mà ra.

Mà tất cả những sự đánh tráo đó lại bắt nguồn từ sự đánh tráo mục tiêu giành độc lập dân tộc vào tháng 8/1945 thành mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội sau đó. Trong lịch sử Việt Nam, đây là sự lừa dối khủng khiếp nhất, lâu dài nhất, gây ra nhiều nỗi đau thương nhất cho dân tộc ta, mà ông Hồ Chí Minh phải là người chịu trách nhiệm chính! Trong bản Tuyên ngôn độc lập mà ông ta đọc vào ngày 2/9/1945, cũng như trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 11/1946, mà ông ta là chủ tịch không hề có một câu chữ nào nói về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Nếu không tin, các ông cứ lấy chúng ra đọc sẽ thấy. Sự đánh tráo đê tiện này đã vượt lên trên cả sự đánh tráo nỏ thần của cha con Triệu Đà – Trọng Thủy khi chúng lừa dối cha con nhà An Dương Vương – Mỵ Châu!

Những người Việt Nam yêu nước khi ý thức được trách nhiệm công dân của mình đã đứng lên đấu tranh và thức tỉnh đồng bào. Lập tức chế độ này vội lu loa lên, vu cho họ là “những kẻ vi phạm pháp luật”, là “các thế lực phản động thù địch” đang hô hào lật đổ chế độ! Cả một hệ thống chính trị đã hung hãn vào cuộc. Tất cả chỉ nhằm mục đích duy nhất là trói tay, bịt miệng những người đấu tranh lại. Không, chính chế độ này mới là chế độ phản động và phản dân tộc! Nó đã dùng bạo lực để chống quyết liệt, chống đến cùng những nội dung cơ bản của thời đại tiến bộ hôm nay là: dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị. Nó dứt khoát phải vĩnh viễn ra đi để mở đường cho dân tộc tiến lên!

Họ nói:

Chúng tôi có gửi các tài liệu mà anh đã sản xuất, lưu trữ và tán phát trên mạng Internet đến Sở văn hóa thông tin là cơ quan chức năng để giám định chúng.

Tôi liền cắt lời họ:

Kết quả cho biết chúng là các tài liệu phản động, đúng không?

Họ nói:

Đúng, chúng tôi có lập Biên bản về việc này và đề nghị anh Hải cho biết ý kiến.

Tôi nói:

Sao các ông không kết luận ngay từ đầu luôn cho “tiện sổ sách”! Việc gì mà các ông phải bày đặt gửi đi chỗ này, chỗ kia “giám định” cho mất công? Tất nhiên là tôi phản đối toàn bộ nội dung của Biên bản này và tiện đây tôi cũng nói luôn: có thể khẳng định rằng 100% những vụ án chính trị ở Việt Nam hiện nay đều bị hình sự hóa. Việc chế độ này trừng trị những người đấu tranh dân chủ đều dựa hoàn toàn vào kết luận điều tra của công an các ông mà thôi. Riêng với những vụ án có tầm ảnh hưởng lớn thì mức án phạt là do Bộ chính trị ĐCS Việt Nam quyết định. Những là “Viện kiểm sát nhân dân”, “Tòa án nhân dân” và giới luật sư, nếu có tham gia thì cũng chỉ là chuyện “muỗi”! Chúng mang nặng tính trình diễn trước công luận trong nước và quốc tế, làm ra vẻ là ở Việt Nam hôm nay cũng đã có nền “dân chủ pháp trị”, cũng có “tam quyền phân lập” vậy.
Cuối cùng, họ tống đạt cho tôi tờ “Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực công nghệ thông tin”, với nội dung tóm tắt như sau:

“Hôm nay, hồi 8 giờ 30 ngày 3/5/2012 tại công an quận Phú Nhuận. Chúng tôi gồm:

1. Dương Minh Dũng – Chức vụ: cán bộ công an Q.Phú Nhuận.
2. Nguyễn Hữu Thuận – Chức vụ: cán bộ công an Tp. HCM.
Với sự chứng kiến của ông Lữ Hà Minh – Chức vụ: cán bộ văn hóa thông tin P.9, Q. Phú Nhuận.
Tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực công nghệ thông tin đối với ông: Đỗ Nam Hải.
Địa chỉ: 441 Nguyễn Kiệm – P.9, Q. Phú Nhuận.
Đã có các hành vi vi phạm hành chính như sau: “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức,…
Các hành vi trên đã vi phạm vào Điều 6, khoản 5, điểm b của Nghị định số: 63/ NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin,…
Anh Hải không đồng ý ký biên bản và không có ý kiến.”.

Những lời thay cho kết luận:

Trong những năm qua cũng đã có nhiều phụ nữ Việt Nam dám dũng cảm đứng lên, chấp nhận đương đầu với mọi hiểm nguy để đòi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải tôn trọng các quyền dân sinh, dân chủ, dân quyền và đòi bảo toàn đất tổ. Tiêu biểu trong số đó là cụ bà Lê Hiền Đức, là các chị: Dương Thu Hương, Hồ Thị Bích Khương, Tạ Phong Tần,  Bùi Thị Minh Hằng và các bạn trẻ: Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Kim Tiến,… Họ xứng đáng được nhiều người Việt Nam ở cả trong và ngoài nước cùng bạn bè thế giới ca ngợi và thán phục. Bằng những việc làm yêu nước của mình, những người phụ nữ Việt Nam anh hùng ấy cũng đã phải chịu đòn thay cho nhiều vị đàn ông con trai, khi mà số người này vẫn vô cảm trước những nỗi đau của đồng bào và thờ ơ trước vận mệnh của Tổ Quốc đang lâm nguy.

Viết đến đây, tôi nhớ đến câu nói của ông Mác (Karl Marx 1818 – 1883): Chỉ có súc vật mới thờ ơ trước những nỗi đau của đồng loại để chăm sóc cho bộ lông da của mình!

© Đỗ Nam Hải – tháng 5/2012.
———————–
Bài viết do tác giả gửi – BBT.VANGANH biên tập và minh họa…
———————–
Phụ lục:

+ Phản cách mạng đã rõ ràng! (Lê Hiền Đức):

http://www.vanganhonline.com/2012/05/phan-cach-mang-ro-rang.html

+ Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Quạ Đen (Dương Thu Hương):

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n4nnn3n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

+ Chị Bùi Thị Minh Hằng tuyên bố sẽ tự thiêu vì dân oan:

http://www.danchimviet.info/archives/57221

+ Uất ức – biển ta ơi! (Phạm Thanh Nghiên):

http://www.danchimviet.info/archives/30765

+ Tuyên bố của Khối 8406 nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập (8/4/2006 – 8/4/2012):

http://vidan.org/index.php/en/thongtin-thamkhao/142-ttnq/2590-2590

+ Chế độ lấy ghế che mặt (Ngô Nhân Dụng):

http://www.thuvien-it.net/home/forum/forum_posts.asp?TID=7947&title=ch7871-2737897-l7845y-gh7871-che-m7863t

+ Kỹ sư Đỗ Nam Hải trả lời phỏng vấn Đài Sài Gòn Network:

http://danlambaovn.blogspot.com/2012/04/ky-su-o-nam-hai-tra-loi-phong-van-ai.html

+ Đính kèm là một số Giấy mời, Giấy triệu tập, Biên bản làm việc, Biên bản thực hiện Quyết định cưỡng chế, Biên bản khám xét nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, Biên bản kiểm kê tài sản, Quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính, Quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định phát mãi bán đấu giá tài sản, v.v…

 

 

 

 

 

 

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Chánh Án Tòa Tối Cao VN Thú Nhận Mua Ghế 50.000 Đô

Posted on May 18, 2012 by HNSG

HANOI(VietBao) — Mua một chức vụ cỡ xã trưởng phải tốn bao nhiêu? Và mua ghế quận trưởng phải tốn bao nhiêu? Có lẽ, giá cao thấp còn tùy theo tỉnh, thành…

Người ta không có thông tin chính xác về mua bán các chức vụ tại VN trước giờ, nhưng hôm Thứ Năm 17/5/2012 có một bài viết của nhà văn Nguyễn Tường Thụy trên blog riêng http://nguyentuongthuy.wordpress.com/2012/05/17/ong-truong-hoa-binh-toi-phai-mat-1-ty-moi-ngoi-cai-ghe-nay/ đưa ra một số thông tin, theo đó ghế Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao đã được ông Trương Hòa Bình mua với giá 1 tỷ đồng VN, nghĩa là gần 50.000 đôla — nếu theo hối suất chính thức thì là 48.000 đôla.

Nếu mua ghế Chánh án với giá như thế, có thể tin rằng khi ông Trương Hòa Bình xét xử các vụ án, thế nào cũng sẽ moi tiền chạy án để cho huề vốn và sẽ kiếm lời.

Bài viết của nhà văn Nguyễn Tường Thụy nhan đề “Ông Trương Hòa Bình: Tôi phải mất 1 tỷ mới ngồi cái ghế này? Đấy là lời kể của chị Hồ Thị Kim Chung…” phổ biến hôm 17/5/2012 với nhiều hình ảnh, giấy tờ, chữ ký… do chị Hồ Thị Kim Chung cung cấp.

Bài viết có các đoạn sau:

“Trong câu chuyện về nỗi oan khuất của chị có chuyện: Khi chị gọi điện cho ông Trương Hòa Bình, đương kim chánh án Tòa án Nhân dân tối cao về vụ án Nguyễn Văn Hưởng (tôi chưa có điều kiện đi sâu vào cái mà chị gọi là vụ án Nguyễn Văn Hưởng), thì ông Bình nói: “Tôi mất 1 tỷ mới được ngồi ở cái ghế này”.

Chưa biết thực hư ra sao nhưng chị công khai về bản thân mình rất chi tiết…”

Tiếp theo, nhà văn Nguyễn Tường Thụy cung cấp lý lịch, địa, số phone của người kể chuyện là chị Hồ Thị Kim Chung.

Nhà văn họ Nguyễn đã nhận xét:

“Việc mua chức không phải là điều gì lạ. Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nhiều lần đề cập tới chuyện này. Nhưng một vị ở cấp cao như ông Trương Hòa Bình mà nói trắng ra với một người dân bình thường tôi phải chạy chức, là điều tôi không ngờ tới.”

Nhà văn cũng trực tiếp phỏng vấn chị Kim Chung, ghi 2 số phone của chị. Vào đêm ngày Thứ Tư, cả 2 số phone đều bị khóa máy. Nhưng các thư tố cáo của chị và hình ảnh vẫn còn để trên blog của nhà văn Nguyễn Tường Thụy.

Con số 48.000 đôla là một tài sản khổng lồ đối với hầu hết dân VN, nơi lương tối thiểu công chức hiện nay là 1,05 triệu đôla, tức là 50,4 đôla Mỹ.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

BỎ ĐẢNG, RỒI SAO NỮA?

BỎ ĐẢNG, RỒI SAO NỮA?

Ngày 29.4.2012, một bài phỏng vấn hai anh em ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn, đảng viên Cộng Sản đã bỏ Đảng, do bác sĩ Phạm Hồng Sơn thực hiện, đã được phổ biến trên Internet nhất là các diễn đàn. Bài phỏng vấn này có tựa đề “Khi hai nhạc sĩ, văn sĩ sáng mắt dù có hơi muộn”. Ông Huỳnh Nhật Hải, bỏ đảngViệt Gian Cộng Sản lúc đang giữ chức vụ của Đảng. Ông Huỳnh Nhật Hải đang giữ chức Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân kiêm Thành Ủy Viên. Ông Huỳnh Nhật Tấn, Phó Giám Đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh Ủy Viên dự khuyết. Đối với những người “đã được nhuộm đỏ” từ bé (lời ông Hải), hoặc “mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy được sống trong tinh thần của cách mạng” (Lời ông Tấn). Cha và 2 anh lớn hoạt động cho Việt Gian Cộng Sản, tập kết ra Bắc. Với bề dày “cách mạng” như vậy mà 2 ông chỉ được giữ những chức vụ tạm gọi là “chẳng béo bở gì” thật là bất công! Tuy vậy, bỏ Đảng lúc này tức là bỏ cả “quá trình đấu tranh gian khỗ” như 2 ông thực đáng khen, can đảm hơn những kẻ khác rất nhiều. Nhưng:

Được hỏi ngoài ảnh hưởng gia đình, có ảnh hưởng nào “bên ngoài” khiến 2 ông ủng hộ Việt Gian Cộng Sản, hai ông cho biết:

“Có những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ, có tên tuổi mà đi với Việt Minh … cũng lôi cuốn họ theo Việt Cộng. Nhất là sự hy sinh, có tinh thần kỹ luật, chịu đựng v.v… của cán bộ Việt Cộng hoạt động bí mật ở trong nhà họ, đã khiến học khâm phục (sic). Ông Hải cho biết sự hiện diện của quân đội Mỹ cũng là nguyên nhân để họ theo Việt Cộng.

Hai nguyên nhân này có thể đúng, nhưng chỉ đúng một nửa! Thật vậy, sau 30.4.1975, đã có một số cán bộ trong rừng ra, đã gặp những “trở ngại” rất lớn sau khi có sự phân “giai cấp: Nhất trụ, nhì tù, tam khu, tứ kết. Bám trụ là ở tại chỗ, hứng bom đạn giữa mặt trận, nhì tù là những kẻ hoạt động bị bắt, tam khu là những kẻ từ trong rừng ra, và tứ kết là thành phần tập kết trở về. Chẳng những vậy, những cán bộ Cộng Sản khi thấy Miền Nam là một xã hội nhân bản, no ấm và nhất là tự do dân chủ đã phải than: “Ăn cơm tù, ở nhà tu, bàn chuyện lãnh tụ, bây giờ mới biết mình ngu”. Ngu là vì những gian khỗ họ chịu không mang lại độc lập, tự do dân chủ và no ấm cho dân tộc mà công lao của họ chỉ giúp cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản có “thành quả phục vụ Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản”. Tiếc thay, 2 ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn trẻ tuổi, học hành và nhất là ở Đàlạt mà không hấp thụ được “văn hóa Đàlạt” tức là có cái nhìn khách quan, phóng khoáng để nhận định thời thế, ví dụ như ông Huỳnh Nhật Tấn đã nói “…khi hoạt động trước năm 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt Trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường”, mà trái lại, chỉ vì gia đình mà phục vụ cho Cộng Sản đến sau năm 1975 cũng vẫn nhắm mắt theo VC. Quá muộn là phải.

Riêng ông Huỳnh Nhật Tấn đã có dịp ở Hà Nội 2 lần, mỗi lần 3 năm, tại sao không có một nhận định gì khi chung quanh ông ta là tham nhũng, là bóc lột, nhất là không thể nào ông không biết vụ “Cải Cách Ruộng Đất “long trời lở đất” do Hồ Chí Minh vâng lệnh Mao Trạch Đông mà phát động, giết trên 200 ngàn người. Chín năm “kháng chiến” giặc Pháp có khi nào giết hại đồng bào ta lên đến con số đó không? Ông cũng không tìm hiểu tại sao cả một triệu người bỏ Hồ Chí Minh và Việt Cộng mà chạy vào Nam? Đặc điểm nhất của Cộng Sản nói chung, Việt Cộng nói riêng rất dễ thấy, dễ biết là “Quản lý Hộ Khẩu và quản lý lương thực”. Đây là hành động giam lỏng nhân dân và cai trị bao tử của nhân dân. Chỉ 2 “chế độ” này mọi người đều thấy sự độc ác của Cộng Sản đối với dân như thế nào. Thế mà hai ông vẫn “không nghe, không thấy, không biết”. Cho mãi đến sau này mới “mở mắt”. Quá muộn là phải!

Được hỏi “Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến 2 ông nhận thức lại Đảng Cộng Sản Việt Nam? Ông Huỳnh Nhật Tấn cho biết “Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn của lãnh đạo Đảng. Điều hành kinh tế phản khoa học, ví dụ buộc Đàlạt phải bao nhiêu rau hay các huyện khác mì(củ mì) mà không cần biết khả năng và lợi thế về thỗ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân, hoặc việc giao quyền lãnh đạo về kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều, so với thời VNCH”. Ví dụ như hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt Trận những những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975, mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả tư tưởng, mà khác với quan điểm của Đảng CSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân , biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại Đảng CSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực mà không tôn trọng những quyền căn bản của người dân. Đáng lẽ hai ông Hải và Tấn phải biết cái cảnh khi Việt Cộng mới chiếm Đàlạt, Việt Cộng (trong đó chắc phải có hai ông) đã chỉ thị cho dân Đàlạt “phá rau để trồng lúa, củ mì và bắp. Và chỉ mấy tháng sau lại chỉ thị vứt bỏ lúa, mì, bắp và trồng lại rau tươi vì nhu cầu của “các lãnh đạo”.

Trên thực tế sau năm 1975, miền Nam là môi trường để người Miền Bắc so sánh chủ nghĩa Cộng Sản với chủ nghĩa Quốc Gia. Miền Bắc cũng là môi trường cho những cán bộ miền Nam như các ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn nhận biết sự khác biệt 100% và ai phục vụ dân, ai đàn áp, coi dân chỉ là phương tiện sản xuất của Cộng Sản. Hình ảnh miền Bắc điêu tàn thế nào, nếp sống của người dân miền Bắc ra sao, còn miền Nam sống như thế nào v.v… đáng lẽ 2 ông là người miền Nam, lớn lên và được sự giáo dục của miền Nam, trí óc phải nhạy bén và sáng suốt hơn, nhận định chính xác hơn và có những quyết định sớm hơn. Trước và sau năm 1975 tại miền Nam cũng thay đổi theo miền Bắc gần như 100%. Các ông không nhận thấy “Việt Cộng đi đến đâu, dân chúng chạy khỏi chỗ đó, và chạy theo người lính VNCH”. Một Đàlạt trống vắng tiêu điều, mọi người đều chạy khỏi Đàlạt, ai không chạy được thì ngơ ngác như kẻ sắp bị hành hình, chỉ còn một số ít người như gia đình hai ông Hải và Tấn là “hân hoan vui mừng”. Thế mà mãi sau này các ông mới thấy Việt Cộng “điều hành kinh tế phản khoa học” và không có tự do dân chủ. Quá muộn là phải.

Được hỏi lý do gì khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó? Ông Huỳnh Nhật Tấn trả lời: “Tôi không tin Đảng CSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói”. Và ông Huỳnh Nhựt Hải thì “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa”. Chẳng những Đảng CSVN không có ý (chứ không phải không cố ý) đưa đất nước đạt đến tốt đẹp mà trên thực tế Đảng Cộng Sản cai trị dân còn dã man, độc ác gấp trăm, ngàn lần thực dân Pháp, và mục đích cuối cùng của Đảng vẫn là ăn cướp của dân, họ là kẻ thù của dân. Lý do 2 ông đưa ra quả thực có vẻ “đường dài” những không thực tế. Có thực tế chăng là hai ông đã phục vụ hăng say, phục vụ “nòi” cho Đảng như vậy mà chỉ được trả công với những chức vụ “chẳng béo bở gì” như ý phát biểu của ông Huỳnh Nhựt Hải. Quá muộn là phải.

Được hỏi về Hồ Chí Minh, ông Huỳnh Nhật Hải cho biết “tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30.4.1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực”. Còn ông Huỳnh Nhật Tấn thì cho rằng ông Hồ Chí Minh chỉ mê quyền lực còn độc lập, tự do dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó (độc lập, tự do dân chủ) chỉ là những ngọn cờ để đảng CSVN lôi kéo tập hơp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho Đảng CSVN (sic). Đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Hồ Chí Minh vừa giành quyền lực cho cá nhân Hồ Chí Minh, nhưng nhiệm vuụ chính của Hồ Chí Minh là phục vụ cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Với mục đích này, Hồ Chí Minh đem dân tộc và đất nước dâng trọn cho Cộng Sản Quốc Tế mà Nga hoa là 2 nước hưởng thụ.

Ở một đoạn khác, ông Huỳnh Nhật Tấn cho rằng “Ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt – Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công Hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng… ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc Cộng Sản…”. Cuộc chiến 1945-1954 do Hồ Chí Minh khởi xướng là một cuộc chiến đáng lẽ không có, nhưng Hồ Chí Minh đã tạo ra do lệnh của Đệ Tam Quốc Tế. Đây là lời thú nhận của Hồ Chí Minh. Đa phần những người kháng chiến có nhận định sai lầm này vì bị nhồi sọ. Từ đầu chí cuối, Hồ Chí Minh chỉ là tên lính xung kích của Nga Hoa, hành hạ và giết chết dã man 200 ngàn dân trong thời bình trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất cũng chỉ vì Hồ Chí Minh vâng lệnh Mao Trạch Đông vì sợ Mao phê phán là không kiên định lập trường (Cộng Sản).

Sở dĩ chúng tôi dài dòng về cuộc phỏng vấn này vì chúng tôi thấy đây là vụ điển hình tiêu biểu cho tâm trạng của những người đã đem cả cuộc đời đầu tư vào độc lập tự do dân chủ cho dân tộc và đã bị Hồ Chí Minh và bè lũ Cộng Sản lừa gạt thê thảm. Chúng tôi cũng không phải đi sâu vào cuộc phỏng vấn này để “hài tội” sáng mắt quá muộn của 2 ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn, muộn còn hơn không. Bài viết này còn có mục đích thực tế và cấp bách hơn nữa như tựa đề của bài:

Bỏ Đảng, rồi sao nữa?

Hai ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn tiêu biểu cho những người đã nhận thức còn đường Cộng Sản sai lầm, nhận thức được mình đã phục vụ một Đảng hại dân, hại nước. Qua những câu hỏi, bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã đưa 2 ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tần trình bày đầy đủ chi tiết cần thiết để vẽ nên một bức tranh sống động: những người nghe theo lời u mê của Hồ Chí Minh và bè lũ của y mà lan xả vào lữa đạn, tạo một “sự nghiệp phản dân hại nước” ngày càng trầm trọng cho đến nỗi nhiều người đã thấy Việt Nam có thể biến mất trên bản đồ thế giới!

Nhưng nếu chỉ “bỏ Đảng về làm người dân” thì chỉ là hành động tiêu cực! Những người dân, nhất là những kẻ sinh sau năm 1975 cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Họ không có “nợ máu với nhân dân” (theo cách nói của Việt Cộng) như những kẻ cầm súng chiến đấu dưới quyền Hồ Chí Minh. Họ không tàn sát dân chúng thành phố Huế Tết Mậu Thân, họ không cố tình giết người dân Quảng Trị trên Đại Lộ Kinh Hoàng từ Diên Sanh đến Mỹ Chánh, họ không giúp Hồ Chí Minh đấu tố địa chủ, và những tội ác tày trời khác đã khiến cho một triệu người Việt chết oan, bị thủ tiêu, bị ám sát… thế mà họ còn đứng lên, họ còn ý thức trách nhiệm công dân, đứng lên chống lại chế độ phản dân hại nước. Còn những Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, v.v… đã nướng biết bao nhiêu binh sĩ dưới quyền, tại sao không nhận trách nhiệm của mình, tại sao không có hành động chuộc tội của mình với nhân dân?

Theo dõi các vị “nghỉ hưu”, các vị bị loại khỏi quyền lực, thứ quyền lực ngồi trên vàng bạc và bất động sản v.v….có nhiều vị trong số này cũng có nhận định giống như hai anh em Huỳnh Nhựt Hải và Huỳnh Nhất Tấn, nhưng nhận định rồi, bỏ đảng là quý vị hết trách nhiệm hay sao? Không phải một mình Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng mà có thể đưa đất nước đến bên bờ diệt vong bây giờ! Mà phần lớn nhờ tay quý vị, tay quý vị quả thực đã nhuộm máu đồng bào. Nói như vậy chúng tôi không cố ý kết án quý vị, nhưng chúng tôi xin nhắc nhỡ quý vị, đừng để thế hệ con cái cho rằng quý vị đã bị nhồi sọ, đã bị nhuộm đỏ hay đã bị hướng dẫn tìm về cội nguồn những bầy đàn leo trèo hái quả trong rừng. Xin quý vị nhớ lại trách nhiệm, nhất là trách nhiệm đối với những người trong hàng ngũ quý vị đã nằm xuống mà cứ nghĩ mình “cứu nước”. Họ bị quý vị tiếp tay với Hồ Chí Minh mà chỉ thị họ hy sinh. Đó là sự thật, một trung đoàn tấn công cổ thành Quảng Trị chỉ còn 30 người. Họ đã chết một cách vô ích và ngày nay gia đình họ chỉ được mấy chữ “gia đình liệt sĩ”. Bỏ Đảng rồi cần phải thay đổi Đảng để dân tộc có cơ hội giành lại độc lập tự do và dân chủ. Chúng tôi cũng không chê trách hai anh em ông Huỳnh Nhựt Hải và Huỳnh Nhật Tấn “mở mắt quá muộn” nhưng chúng tôi cảnh tỉnh 2 ông và quý vị hãy nhận trách nhiệm trước lịch sử. Đừng để những thế hệ con cháu quý vị khinh chê quý vị. Lúc trước, quý vị bị lừa gạt nên lăn mình vào lữa đạn để Hồ Chí Minh lập công với Nga Hoa. Hôm nay quý vị đã sáng mắt, đã nhận định được chính mình đã góp một bàn tay tạo nên tội ác, nhận định rồi vẫn ngồi yên, coi “không đặng”. Có thể đa số quý vị sợ con cháu bị ảnh hưởng xấu, bị tước bỏ danh nghĩa “hoàng tử”, “công nương” đang cầm đầu những công ty quốc doanh, đang điều khiển những mối lợi to lớn. Quý vị hãy nghĩ đến những nạn nhân của quý mà cùng dân tộc tiến lên.

Bỏ Đảng rồi, phải đoái tội lập công kẻo các thế hệ con cháu nguyền rủa.

Lê Văn Ấn

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Những cú đánh tuyệt chiêu với tinh thần “kiên quyết tấn công” của các chiến sĩ công an



J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Ngày xưa còn nhỏ cứ mỗi lần được nghe đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam phát thanh từ Hà Nội, đưa tin chiến thắng của quân và dân miền Nam mình cứ nức lòng. Đặc biệt mỗi khi nghe tin “bọn Mỹ – Ngụy đàn áp dã man đồng bào miền Nam” mình hết sức xúc động và căm phẫn. Không căm phẫn sao được, cả miền Nam khi đó đang “quằn quại dưới gót sắt xâm lược của Đế quốc Mỹ, đồng bào miền Nam đang rên xiết dưới ách thống trị của bọn bán nước và ác ôn”. Đến nỗi câu thơ của Tố Hữu vẫn ăn sâu trong trí nhớ của mình đến giờ:

Có những ông già, nó khảo tra
Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh, không chịu nhục
Lấy vồ nó đập, vọt thai ra…
Có em nhỏ nghịch, ra xem giặc
Nó bắt vô vườn, trói gốc cau
Nó đốt, nó cười… em nhỏ hét
“Má ơi, nóng quá, cứu con mau”!


“Vì miền Nam ruột thịt, mỗi người làm việc bằng hai”

Rồi liên tục những bài viết, những thôn tin về những trận càn của giặc đã tàn sát đồng bào miền Nam, giết hại dân lành vô tội, cướp của giết người không ghê tay.

Những thông tin đó luôn luôn được cập nhật và nhắc đi, nhắc lại hàng ngày, hàng giờ trong lớp học, trong họp thôn, trong sinh hoạt xóm, trong các buổi tiễn quân… đồng bào miền Bắc hừng hực căm thù quyết “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Dù hồi đó miền Bắc đói, đói đến vàng mắt và đói đến xanh người vì cái nạn Hợp tác xã nông nghiệp. Thế nhưng dù đói vậy mà vẫn còn sướng hơn vạn lần đồng bào miền Nam. Vì khi đó nói như Tố Hữu – Lại Tố Hữu – “Miền Bắc, thiên đường của các con tôi”. Vì thế mỗi lần nghe Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc trước khi vào lớp tất cả đồng thanh hát “Ôi xương tan máu rơi, lòng hận thù ngất trời… Vùng lên, nhân dân Việt Nam anh hùng, Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng, thề cứu lấy nước nhà, thà hi sinh đến cùng, cầm gươm, ôm súng xốc tới. Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi…” mình cố gắng gào thật to.

Mãi đến sau này, khi lớn lên, khi có nhiều thông tin hơn, mình mới biết rằng miền Nam không đói rách khổ sở như thế. Khi đó đã khá lớn, nếu thắc mắc thì liền được giải thích rằng thì là “miền Nam thì phồn hoa, nhưng là phồn hoa giả tạo, ta đói nghèo nhưng đói nghèo thật”, sau này “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn 10, à không, hơn 100 ngày nay cơ”, giờ nghĩ lại những câu đó, nó từa tựa như của AQ “con tao sau này chẳng bằng năm, bằng mười chúng mày ấy à”. Thế mà khi đó vẫn cứ há hốc mồm nghe và tin.
Rồi liên tục những bài viết, những thôn tin về những trận càn của giặc đã tàn sát đồng bào miền Nam, giết hại dân lành vô tội, cướp của giết người không ghê tay.


Hình trên mạng, một tên lính Mỹ tàn ác trong một trận càn nào đó.


Lại một tên lính Mỹ tàn ác trong một trận càn khác

Thế nhưng, mình chưa tận mắt thấy một trận càn nào của cái bọn “Mỹ – Ngụy tàn ác” nhưng vẫn được nghe rằng trong các trận đó, lực lượng vũ trang của ta luôn đánh địch rất giỏi, nhất là lực lượng công an và bộ đội, du kích. Những miếng võ của các chiến sĩ công an, bộ đội ta đã làm bọn giặc phải kinh hồn bạt vía, một chiến sĩ có thể đá tung mấy quân thù…

Với trí tưởng tượng tuổi thơ non nớt, mình kính phục các chú công an, bộ đội ta ghê gớm, cứ mong chóng lớn để được “tiếp bước cha anh lên đường đánh Mỹ”.

Thế nhưng, lớn lên thì “Mỹ đã chạy, ngụy đã nhào”, cả nước hân hoan say men chiến thắng và nghe lời “đồng chí Lê Duẩn” oang oang “Từ nay, vĩnh viễn không còn bóng một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta”. Kinh thật, Việt Nam đứng đầu thế giới, giỏi nhất thế giới, ai dám động vào Việt Nam nữa khi Mỹ cút, Pháp bỏ chạy, Nhật đã phải cút về. Thế là mấy thằng con nít cứ tập trung tự sướng với nhau, ưỡn ngực tự hào Việt Nam mạnh nhất thế giới.

Nhưng, mình tiếc là chưa được nhìn thấy trận càn nào để thấy tội ác của giặc và biết được các chú công an của ta đã chiến đấu dũng cảm như thế nào.

Thế rồi, cầu được, ước thấy.

Mới đây, qua các vụ “cưỡng chế” – mình không thích dùng từ này, nghe cứ như cưỡng hiếp ấy, kinh lắm – ở các nơi như Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, mình mới thấy đúng là đi càn kinh khủng thật. Súng nổ đùng đoàng, khói lửa ngất trời, quân đi như nước, vũ khí hùng hậu, quân đội mắt trước mắt sau đông nghẹt, khí thế đằng đằng sát khí. Không chỉ có cán bộ mà còn thêm công an và chó, (cái này ngày trước Mỹ – Ngụy” chắc dốt không biết xài?). Mới nhìn đã rụng rời chân tay.

Cũng qua những trận đó mới thấy bà con ta anh hùng thật. Ngày xưa, chị Chiên tay không bắt giặc vì bọn giặc lớ ngớ, còn ngày nay, bà con nông dân ta tay không vẫn dám đứng lên chống lại đoàn quân tinh nhuệ. Thấy mà hãi cứ như phim chưởng.

Nhưng, ấn tượng nhất là hình ảnh các chú mang sắc phục công an, đánh dân như chớp, đánh tàn bạo, đánh như đánh đòn thù. Chắc ngày xưa, đánh Mỹ các chú cũng không đánh được sướng như bây giờ, vì bọn Mỹ nó to con, còn dân mình thì nhỏ bé. Thế nhưng dù dân mình nhỏ bé, thì cả chục chú vẫn quây lại “quyết không cho chúng nó thoát, đã sa vào sẽ không thấy đường ra” đánh hội đồng và dồn hết căm thù lên đầu gậy, lên từng cú đá, đấm, đạp… đại loại là các ngón đã tinh luyện bao năm.

Nhìn những quả đánh này, đúng là không hổ công dân ta nuôi các chú bao năm, cho ăn, cho mặc đầy đủ đến nỗi chú nào chú ấy béo như con quay, mặt đỏ phừng phừng để các chú khổ công luyện tập theo đúng tinh thần “Thao trường đổ mồ hôi, cưỡng chế bớt đổ máu”.

Mới đây, vụ Tiên Lãng rồi đặc biệt vụ Văn Giang, tinh thần quyết chiến quyết thắng với nhân dân đã được thể hiện rất rõ nét. Trong cuộc chiến với nhân dân, các chú đã thể hiện tinh thần tư tưởng rất thông suốt là cứ không phải quân ta, ắt hẳn là quân thù. Do vậy nhà báo, nhà đài đánh tuốt, sưng đầu vều môi là còn nhẹ.

Nhiều video được “các phần tử chống đối trong và ngoài nước”- Lời ông Phó chủ tịch Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào – đưa lên mạng nhìn còn sinh động hơn nếu có mặt tại chỗ, vì nếu có mặt tại chỗ cũng chỉ xem được một lần và chắc chẳng ai không nhắm mắt lại khi chứng kiến những cảnh đánh người rùng rợn ngay trước mắt.

Ấn tượng nhất là quả các chiến sĩ của chúng ta đánh một kẻ thù là đàn bà, nhỏ con thôi (cỡ 42-45kg là cùng) nhưng tất cả một đội quân lăm lăm gậy gộc trong tay đã quyết chiến với ý chí còn giặc là còn đánh, chưa hết giặc chưa về.

Cuối cùng thì cưỡng chế đã thành công. Thành công này nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, sâu sát của đảng ta, chẳng hạn như đồng chí Chánh văn phòng UBND Tỉnh Hưng Yên Bùi Huy Thanh đã làm bản báo công “Hôm đó tôi ngồi tại sở chỉ huy dã chiến, cầm bộ đàm chỉ đạo liên tục”.

Cưỡng chế thì thành công, với lực lượng bên ta nhỏ bé, chỉ có khoảng 3.000 quân từ Bộ Công an, Tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang đã thắng lợi giòn giã trước một bọn địch là nông dân Văn Giang với lực lượng đến mấy trăm đàn bà, trẻ con, ông bà già. Toàn bộ đất của chúng, chúng ta đã “thu hồi” về tay tập đoàn Việt Hưng, toàn bộ cây cối, tài sản của chúng, ta đã phá hủy và làm mất sức chiến đấu không còn sót cây nào, chỉ còn vài cây không có giá trị gì không tính.

Không chỉ có chúng ta đã thắng bọn nông dân còn sống, mà ngay cả bọn nông dân đã nằm dưới mồ, cũng phải đào chúng nó lên cho phơi xương trắng ra đồng mà đền tội. Tội chúng nó là đã trót đẻ ra loại con cháu cứng đầu cứng cổ, tội lớn hơn của chúng là đã để lại ruộng đất cho con cháu mà nay nhà nước bảo giao lại để nhà nước “thu hồi” cho những kẻ nhiều tiền hơn lại không chịu.

Bài học kinh nghiệm khi nuôi lính mình phát hiện ra là cứ nuôi cho lính thật béo, béo quay béo quắt lên, dù có di chuyển, đi lại nặng nề chút, nhưng khi ra trận thì hăng máu vô cùng. Vì giữa cái nắng như đốt ở ta, mang bộ áo quần công an, mũ bảo hộ của công an, rồi còn súng đạn, gậy gộc… nên các chú rất dễ nổi cáu, đỏ bừng mặt, tinh thần hưng phấn, chiến đấu hăng say. Vì thế khi thấy giặc là đánh, bất kể là đàn bà, đàn ông, thanh niên hay phụ nữ. Ấy, cái sự say máu nó có tác dụng là chỗ đó.

Một vài hình ảnh phân tích cú đánh với tinh thần “kiên quyết tấn công, hợp đồng chiến đấu, lập công tập thể” của các chiến sĩ công an trong vụ Văn Giang ngày 24/4/2012:


Quân đi trùng trùng, khí thế bừng bừng


Kiên quyết tấn công, đâu có nông dân là ta cứ đi


Một tên nông dân cái đã ngã gục tại bờ tường đài Liệt sĩ


Với tinh thần không khoan nhượng, chiến sĩ ta lôi dậy, bẻ tay chéo cánh ra sau. Tên địch nữ này thấp bé nhẹ cân so với chiến sĩ ta


Hai chiến sĩ giữ tay quân địch là nông dân nữ (A), một chiến sĩ cao lớn lấy đà (X)


Vung tay, nghiêng người tung cú đá đúng với sở trường về khoảng cách và thể lực vào đúng mỏ ác tên địch nông dân nữ


Với sự chuẩn xác đến không ngờ, cú đá đúng chỗ hiểm là dưới xương mỏ ác kẻ thù đứng chỉ ngang tầm ngực của chiến sĩ ta.


Cú đá quá mạnh đã làm chiến sĩ ta phái vung tay lấy lại thăng bằng, nhưng kẻ thù đã hưởng cú đá trọn vẹn


Kẻ thù đã ngay lập tức bị hạ gục, đổ xuống như cây chuối, hai chiến sĩ ta giữ tay bẻ chéo đằng sau mà vẫn phải gục xuống (A là cái đầu kẻ địch)


Kẻ thù đã được xác định rõ là tên Ngô Thị Ánh, nông dân ở Xuân Quan 1, Văn Giang, Hưng Yên

Ngày 14/5/2012

J.B Nguyễn Hữu Vinh

P/S: Ai chưa nghe bài hát Giải phóng miền Nam, thì hãy nghe đi một lần để cho nó máu chiến nhé, toàn giết và máu thôi. Ngày nhỏ tôi được nghe hàng ngày:

http://www.nhaccuatui.com/m/rXan8hllS1

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Xóm Nhỏ


Tiểu Thu

Khi gia đình Mai dọn về Ngã Tư Bình Hòa thì nó vừa lên tám. Anh Tú hai mươi và chị Thơ mười tám, đang mang bầu thằng Phương.

Trước đó hai năm, chỉ có một mình ba lên Sàigòn ở tạm nhà chú Sáu Tuấn bên Thị nghè. Ba giữ chân kế toán trưởng cho một viện bào chế thuốc tây vào hạng lớn nhứt Sàigòn thuở đó. Ông chủ người Pháp quanh năm ở tuốt bên Kinh đô ánh sáng. Năm thì mười họa mới giá lâm một lần để xem nhân viên mần ăn ra sao ? Mọi việc đều giao cho một quản lý người Việt nên cái màn ” vắng chủ nhà gà vọc riêu tôm” cũng có lúc xảy ra. Trong đám phụ tá của ba Mai có chú Thạnh, nhỏ hơn ba năm, sáu tuổi nhưng số nhi đồng lại đông gấp đôi, nên nhà chú thường xuyên thiếu trước hụt sau. Có lần thím Thạnh vô nhà thương mổ ruột dư, túng quá chú đành vô văn phòng của ba, gãi đầu gãi tai một hồi mới ấp úng :

- Anh Thăng, vợ em nằm nhà thương… (thở dài !), em cũng biết là làm phiền anh lắm, nhưng mà… (chắc lưỡi… ), em hết biết tính sao!

Ba Mai không nói không rằng, rút đại một cái hoá đơn của một nhà thuốc nào đó còn thiếu tiền, đưa cho chú Thạnh:

- Nè, đi đòi đi. Rồi tháng sau ráng trả lại cho đàng hoàng nghe không.

Chú Thạnh hởn hở cầm cái hóa đơn cứu mạng, miệng cám ơn rối rít.

Ba thích giúp đỡ mọi người nên được các đồng nghiệp yêu mến. Thỉnh thoảng mấy chú kéo đến nhà Mai nhậu nhẹt, cả anh chàng dược sĩ trẻ người Pháp từ Paris quạ Má Mai làm đồ nhậu là số một.

Sau này, thấy mỗi lần má dẫn Mai lên Sàigòn thăm ba cực khổ quá, vì phải đi tàu từ Cao Lãnh qua Sađéc. Không muốn phiền người quen nên má và Mai phải ngủ qua đêm trên mui tàu, sáng hôm sau mới lấy xe đò lên Sàigòn. Nội qua cái bắc Mỹ Thuận cũng mất mấy tiếng đồng hồ. Thành thử quãng đường chỉ dài độ 140 cây số mà phải đi cả ngày mới tới. Má còn cụ bị lủ khủ nào gạo, khô, gà vịt, trái cây… Lần nào cũng bị lơ xe cằn nhằn. Đó là chưa kể tình hình dưới quê rất lộn xộn. Lính Quốc gia. Lính Hòa Hảo. Việt Minh. Người dân ở giữa giống như trái độn. Nạn cướp tới thăm có khi một tháng đôi lần.

Mai nhớ lần nọ má và chị Thơ chở một ghe xoài qua bán bên tỉnh Bến Tre, Mai phải qua ở với ông bà nội. Đêm đó ngày rằm nên trăng sáng vằng vặc. Mai ngủ chung với bà nội ở gian nhà giữa. Chị Yến con cô Hai ngủ trên bộ ván gỏ cạnh cửa sổ ngó ra vườn. Không hiểu cao hứng gì mà đêm đó chị gác một chân lên thành cửa sổ. Nửa đêm giựt mình, có cảm tưởng như hai cánh cửa nhúc nhích. Chị ngồi bật dậy ngó qua khe cửa thấy một người mặc đồ đen, vai đeo súng đang cố sức kéo cho cánh cửa bật ra. Chị la :

-Cướp ! Cướp ! Cậu bảy ơi, ăn cướp !

Cả nhà tỉnh ngủ tức thì. Bà nội kéo Mai chun xuống gầm giường, con nhỏ run như cầy sấy. Bà mò xuống bếp lấy cái mâm thau hay nồi đồng gì đó Mai cũng quên mất, chun trở vô gầm giường, tay vừa gỏ xèng xèng, miệng niệm Phật lia lịa. Ông nội có chổ bí mật để ngủ mỗi đêm, nên không khi nào lên tiếng. Nghe tiếng báo động của bà nội, cả xóm kẻ gõ nồi, người gõ mâm, người khác gõ mõ vang rân cả xóm. Chị Yến gan lì hết sức, vừa chạy vòng vòng vừa ngó qua khe cửa. Trong nhà tối, bên ngoài trăng sáng như ban ngày, mỗi lần thấy bóng một tên cướp, khoảng 3 đứa, đi xung quanh nhà, gặp cửa nào cũng giựt thử là chị lại thét lên -chắc đế cướp tinh thần địch:

- Nó nè cậu bảy ơi. Chỉa đâu đưa đây con đâm nó (!??)

Chú Bảy cũng phụ họa:

- Đâu đâu. Để đó cho tao !

Lính ở đồn Mỹ An bên kia sông, xéo xéo nhà ông nội nghe tiếng báo động bên Tân An liền bắn qua mấy tràng súng thị uỵ Bọn cướp thấy không xong bèn rút lui có trật tư…

Mờ sáng hôm sau, vị hôn phu của chị Yến, ở tuốt luốt bên xã Mỹ Ngãi, lật đật qua vấn an người yêu. Chị cười lỏn lẻn hỏi sao biết, thì anh Dương cũng rất thiệt thà thổ lộ rằng, tối hôm qua, lẫn trong tiếng xèng xèng, cóc cóc, anh còn nghe tiếng cướp cướp được phát ra từ cái giọng Soprano “vượt bức tường âm thanh” của chị, bay qua tận bên nhà của anh. Tuy rằng hai nhà cách nhau một cánh đồng xa độ cây số rưỡi. Vì vậy anh thấp thỏm đợi hừng sáng là qua “thăm dân cho biết sự tình “. Thấy chị bình an vô sự anh rất mừng. Mai không biết khi khám phá ra cô vợ tương lai có cái giọng “cao hơn người” này – chị Yến vốn cao chưa tới thước rưỡi – anh Dương có lo sợ cho hai cái màng nhỉ của anh không nữa ?!. Cứ vậy, không thành công lần này chúng tiếp tục trở lại hỏi thăm sức khỏe lần khác. Tuy không tổn thất vật chất, nhưng tinh thần lại thiệt hại trầm trọng. Ba thấy vậy kêu cả nhà lên Sàigòn ở luôn.

Ba má mua lại một căn nhà mái tôn, vách bổ kho nho nhỏ trên đường Lê Quang Định. Sau này buôn bán khá, căn nhà được nới rộng thêm ra. Nhà cách ngả tư độ trăm thước đi về hướng chợ Cây Quéo. Cũng nhờ bác Ba Đại của Mai an cư lạc nghiệp tại xóm này hơn hai mươi năm rồi. Bác có tám người con – năm trai, ba gái. Lớn nhứt là anh Hai Jean. Nhưng bị mọi người “nhất trí” kêu là Răng. Lúc ông Diệm lên chấp chánh bắt phải đổi lại quốc tịch Việt. Không hiểu do óc khôi hài cao độ hay vì lý do nào khác, anh lấy tên là Nguyễn Văn Vàng. Từ đó tên anh trở thành Hai Răng Vàng, tuy cả hai hàm, kiếm bảy ngày cũng không ra cái răng vàng nào hết. Anh giống bác Ba trai, đẹp như tài tử Mỹ, cái miệng lại trơn như thoa mỡ. Mỗi lần anh ghé thăm là cả nhà cười nghiêng cười ngửa. Ông bà già vợ quý anh như vàng. Hai ông bà trước sau chỉ có hai cô con gái rượu. Chị Tâm và chị Nguyệt. Anh lấy cô em là chị Nguyệt. Tin tưởng tuyệt đối nơi chàng rể quý, nên năm ba bữa bà má vợ lại nhờ:

- Răng à, chở dùm chị hai con vô Chợ Lớn khui hụi cho má. Bữa nay má ể mình đi hổng đựơc !

- Răng à, chở chị hai con vô nhà bà Tôn đòi tiền dùm má. Trời Phật ngó xuống mà coi. Thiếu có năm ngàn mà đi mòn đường cũng hổng chịu trả. Ứ hự !!

Cho tới một hôm chị Tâm khăn gói ra đi không một lời từ biệt cha mẹ già. Tra khảo riết, cuối cùng anh Răng cũng phải thú thiệt là đã đem chị Tâm dấu một chỗ chờ ngày đập bầu. Vì ngoài những chuyện bà má vợ nhờ làm, anh còn thày lay làm luôn những chuyện bả không hề nhờ tới mới là khổ !!

Nghe tin động thiên đình bà già lăn ra sàn gạch khóc lóc thảm thiết, nhưng cuối cùng cũng đành chấp nhận thương đau !! Nhưng từ đó hai chị em không thèm nhìn mặt nhau nữa. Riêng cái mục sản xuất nhi đồng thì không bà nào chịu thua bà nào. Cứ chị Tâm một đứa thì chị Nguyệt một đứa cho huề!

Nhà bác ba Đại ở ngay mặt đường cái. Kế đó là quán cà phê, hủ tiếu của vợ chồng chú ba Lâm. Mỗi buổi sáng quán này đông nghẹt khách tới ăn điểm tâm. Phần lớn là dân thợ thuyền hoặc phu xích lộ Hai ông bà không con, nuôi một con chó vàng khôn hết sức. Không hiểu sao một bữa cao hứng, chú cẩu ta chạy băng qua đường (chắc thấy một bóng hồng nào đó đang nhởn nhơ bên kia chăng ? Vì chỉ có tình yêu mới khiến cho muôn loài đâm ra mù quáng, không còn sợ trời sợ đất gì hết ! ) bị xe xích lô máy cán chết tươi. Thím ba khóc quá chừng vì thương chú cẩu này như con… Nhà Mai kế bên nhưng thụt sâu vô trong. Khoảng sân trước giáp với quán cà phê. Mỗi buổi sáng, Mai chỉ cầm cái ly bước vô sau bếp chú ba Lâm là có cà phê sữa nóng hổi và khi thì cái bánh tiêu, khi cái giò chéo quảy, dĩa xíu mại đem về cho ba ăn sáng trước khi đi làm. Gần đường, sát vách quán má Mai chất đống củi khô bán cùng xóm. Vì thời đó nhà nào cũng chụm củi hoặc chụm than. Mỗi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần ở chiếc bàn tròn trước sân. Nói chuyện tầm phào hoặc nghe ké mấy tuồng hát bội từ cái ra-dô (radio) bên quán cà phê. Vì vậy ngay từ nhỏ, Mai đã thuộc lòng chuyện Bà Chung Vô Diệm với lão vua dê xồm Tề Tuyên Vương. Mỗi lần nghe cái giọng khẩn cầu thảm thiết của lão khi giặc tràn tới biên cương:

- Hậu ơi Hậu. Hậu ráng cứu trẫm chuyến này. Trẫm thề sẽ… v..v..và v..v… để rồi sau đó, khi bà dẹp xong giặc trở về, lão ta lại nghe lời mấy con Thứ phi xí xọn gièm xiểm, kiếm mọi cách tống bà vô lãnh cung là Mai lại tức cành hông. Có lần nhỏ hỏi má:

-Má à, sao bà Chung Vô Diệm giỏi võ như vậy, mà lúc bị đày vô lãnh cung, bả hổng chém cho ông vua một nhát để ổng chết phứt cho rồi ?

Chị Thơ háy một cái lạnh lùng luôn:

-Vậy cũng nói ! giết “thằng chả” chết rồi là hết chuyện, lấy đâu cho mày nghe mỗi buổi tối ?

Má cũng nói ối chuyện người ta đặt ra mà, hơi đâu thắc mắc ! Vậy chớ Mai cũng cứ ấm ức ! Cái bà Chung Vô Diệm ngoài chiến trường thì oai phong lẫm liệt, trước mặt lão vua già lại yểu xìu như cái bánh tráng ướt ! Lão chỉ cần “thở” ra vài lời đường mật là bà ta lại hồ hởi đem thân xông pha ra chiến trường dẹp giặc. Có lần vác cái bầu gần ngày sanh ra trận. Bị kẹt trong vòng vây, bèn đẻ rớt luôn một hoàng tử giữa trận tiền. Trong khi đó lão vua già phây phây ở nhà ôm ấp mấy con Thứ Phi cà chớn ! Bà Chung Vô Diệm hiền chớ Mai là chém ráo trọi. Từ lão dâm tặc cho tới mấy mụ thứ phi cà chua. Chị Thơ nói con nhỏ này mới nứt mắt mà đã dữ như bà chằng. Mai mốt chắc ở giá hổng ai dám rước!

Sát vách nhà Mai là nhà cô Bảy Huệ. Lúc gia đình Mai tới định cư thì họ đã ở đó rồi. Bà mẹ lúc đó độ ngoài năm mươi, tóc hoa râm, rất đẹp người. Cô bảy độ chừng hăm lăm, hăm sáu tuổi và thằng Bảo là con người anh ruột của cô. Nghe bác Ba gái nói ông này theo lính Bình Xuyên đóng bên kia cầu chữ Ỵ Nó bằng tuổi Mai mà sáng nào cũng ngồi trước hàng ba khóc nhèo nhẹo cho tới khi bà Hai Cần, bà nội no,ù xì tiền ra cu cậu mới chịu nín. Ba cấm không cho Mai chơi với nó. Ông nói ba nó là giặc Bình Xuyên. Mai thấy thiệt là vô lý. Ba nó theo Bình Xuyên có phải tại nó xúi đâu mà bắt lỗi nó? Vì vậy sau giờ học, Mai hay lén qua sân nhà cô Bảy Huệ để chơi nhảy lò cò với thằng Bảo. Trường Mai học ở gần nhà trong khi ba đi làm tuốt ngoài đường Catinat. Nhưng phải canh chừng, hể thấy bóng chiếc Alcion trờ tới trước cửa nhà nhỏ Kim Châu, cách nhà Mai hai căn, là phải lẹ lẹ nhảy phóc qua cái lan can mà về tức thì, nếu bị bắt tại trận tối đó sẽ bị phạt quỳ…

Thật ra cho tới bây giờ, nghĩ lại tình cảnh cô Bảy Huệ lúc bấy giờ, Mai không biết nên thương hay nên trách ?

Cô Bảy người tầm thước, nước da bánh mật, miệng hơi móm duyên, cười khoe hai hàm răng nhỏ rức. Không phải sắc nước hương trời, nhưng là một nhan sắc hiền diệu, ưa nhìn. Cô nói năng rất nhỏ nhẹ, chừng mực. Sáng nào Mai cũng thấy cô mặc bộ đồ nữ quân nhân, đúng giờ một chiếc xe nhà binh tới ngừng trước ngõ, rước cô đi làm. Chiều cũng chiếc xe nhà binh đó đưa cô về. Ngoài giờ làm việc Mai chưa thấy cô đi chơi với bạn trai bao giờ, tuy rằng thời đó, ở tuổi cô, có thể nói là đã lỡ thời ! Mai không biết lương hướng của cô ra sao, chỉ biết ngoài mẹ cô là bà Hai Cần (mắc bịnh ghiền đánh tứ sắc) cô phải cưu mang thêm thằng Bảo. Mất mẹ sớm, ba nó lại đi lính Bình Xuyên giao đứt nó luôn cho má con cô nuôi. Thấy nó côi cút tội nghiệp, đôi khi bà Hai cưng chiều quá đáng. Sau này, khi quân chính phủ dẹp tan đám Bình Xuyên, ba thằng Bảo bị bắt ở tù. Vì vậy ngoài má con cô Bảy Huệ và thằng Bảo, nhà không bao giờ có bóng đàn ông… Vậy mà một bữa đi học về, mới tới đầu ngõ Mai thấy một người đàn ông trọng tuổi từ trong nhà cô Bảy đi ra. Dáng người hơi thấp, mập mạp, trắng trẻo, tóc hoa râm. Nhìn ông, người ta đoán ngay được là dân có tiền. Tò mò Mai đứng lại nhìn. Ra tới cổng, ông ta còn dòm bên trái, bên phải như kiếm ai rồi mới đeo cặp kiếng đen, bước hối hả ra đường, đi về hướng ngã Tư Bình Hòa. Mai vô nhà gặp chị Thơ đang nấu cơm chiều, nhỏ kể luôn:

-Em mới thấy có một “ông già” từ nhà cô Bảy Huệ đi ra.

Chị Thơ thì thầm, vì bếp nhà Mai sát vách nhà cô Bảy:

-Ổng là “mèo” của cô Bảy đó.

Mai nhảy dựng như bị phỏng lửa:

-Cái gì ? Mèo của cô Bảy ?

Chị Thơ cú lên đầu Mai một cái đau điếng:

-Nhỏ họng chút coi. Mày la om sòm bên kia “họ” nghe được làm sao ?

Mai vừa vò đầu vừa nhăn nhó:

-Chị có lộn hông đó. Chắc ổng là “mèo” của bà Hai…

Chị Thơ xì một cái:

-Mày biết gì mà nói. Hôm kia bà Hai qua đây “tâm sự”, khóc lóc một trận quá trời với má đây nè. Bả nói tại nghèo, lại cần tiền lo cho ba thằng Bảo ra khỏi tù, nên có người bà con làm mai cho cô Bảy làm bé ông này, cổ đành ưng thuận. Ổng có vợ mà gần hai mươi năm nay bả cứ trơ trơ, chẳng chịu chửa đẻ cho ổng đứa con nào hết trơn. Mà ổng thì giàu quá trời. Chủ một hãng xe đò, tới cả chục chiếc lận. Ổng ham con lắm nên chịu bảo bọc hết gia đình cô Bảy. Hổm nay tao thấy ổng vô đây mấy lần rồi đó. Nghe đâu ổng gần năm mươi tuổi , nhưng nhờ giàu có tẩm bổ nhiều thành thử còn “chiến” lắm. Mày hổng để ý lúc này cô Bảy đâu còn đi làm nữa.

Ờ há, cả tháng nay Mai không thấy chiếc xe nhà binh mỗi sáng tới rước cô Bảy như thường lệ. Nhưng ai đâu để ý “chiện” người lớn ? Bữa nay chị Thơ nhắc Mai mới nhớ ra. Rồi sau những lần gặp gỡ lén lút tại nhà cô Bảy, kết quả là cái bụng cô mỗi ngày một lớn thêm ra. Ông Kiện mừng hết lớn luôn. Bình thường ông ta đến và đi đều trong giờ làm việc, chắc để bà vợ khỏi nghi, đậu xe xa xa rồi mới tà tà đi bộ đến cái “tổ oan ương”. Mỗi lần người khách quý này tới là bà Hai Cần phải kiếm cớ, khi thì xách giỏ đi tuốt xuống chợ Bà Chiểu, lúc lại dọt qua nhà Mai ngồi tán dóc với má ít lâu cho “đôi trẻ” mần việc – Mà họ làm việc này rất nghiêm chỉnh, vì đối với ông Kiện, thì giờ thật sự là tiền bạc! Có lẽ sung sướng quá nên ông đâm ra bất cẩn, không coi chừng cẩn thận như trước. Một ngày đẹp trời đi học về, Mai thấy một bà đứng tuổi – cở má – phốp pháp, mặt mày đầy son phấn đứng trước cổng nhà cô Bảy (đương nhiên là được cài móc phía trong rất kỹ để phòng hờ… ). Bàn tay có những móng sơn đỏ chót, đang xỉa xói vô nhà, miệng chửi dòn tan. Lối xóm bu lại coi đông nghẹt. Bả phân bua :

-Từ mấy tháng nay tui biết là thằng chả có mèo. Theo dõi riết bây giờ mới bắt được tại trận. Tui biết chắc là tụi nó đương hú hí với nhau ở trỏng. Rồi bả nghiến răng trèo trẹo rít lên:

-Trời ơi thằng già dịch. Đầu hai thứ tóc rồi mà còn ngu (?) đem tiền cho”con ngựa” đáng tuổi con nó ăn. Trời ơi là trời ! Tui có lầm lỗi gì đâu mà bị đối xử tàn nhẫn như vầy? Đồ ác nhơn thất đức! Tội nghiệp, bả quên là trong xã hội Việt Nam, vợ chồng lấy nhau không con cũng là một vấn đề trọng đại. Có được bao nhiêu người đàn ông rộng lượng? Phần nhiều là các ông hay chụp ngay cái cớ đó để lập phòng nhì, phòng ba. Réo đôi gian phu dâm phụ ra chửi tơi bời hoa lá mà thấy trong nhà vẫn áng binh bất động, bả đâm mất hứng đành lui binh, sau khi ném lại một câu đe dọa xanh dờn :

-Rồi tụi bây sẽ biết tay tao !

Nghe nói chiếc Peugeot 203 của ổng đậu tuốt ngoài ngả tư, gần rạp Cao Đồng Hưng bị bà Hoạn Thư đập tan tành hết mấy cái kiếng. Thôi thì không bị đốt như chồng cô Hườn là may rồi, nhằm nhò gì ba cái kiếng xe !

Sau đó, không biết ổng về điều đình với bà vợ ra sao mà không thấy bả trở lại đánh ghen cô Bảy Huệ nữa. Thằng Toàn ra đời trong sự vui mừng tột cùng của ông Kiện. Đầy tháng của nó, cô Bảy cúng nguyên một con heo quay to tướng. Bà Hai đem biếu hàng xóm mỗi nhà một phần ăn lấy thảo. Mai còn nhớ lúc nó được đâu năm, sáu tháng gì đó, ông Kiện bị tai nạn gẫy một chân phải nằm nhà thương. Vậy mà ngày nào ổng cũng bắt tài xế chở tới đậu trước cổng nhà, cô Bảy Huệ ẳm thằng Toàn ra cho ổng nựng nịu, hôn hít một hồi rồi mới chịu trở vô nhà thương. Thấy đống đồ chơi của nó mà bắt thèm. Chị Thơ sanh thằng Phương trước nó năm tháng, mà tội nghiệp quanh đi quẩn lại chỉ có hai ba món đồ chơi quèn. Bù lại nó là đứa cháu đầu nên được cả nhà cưng như cưng trứng. Nó lại đẹp quá trời nên ba lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng móc… hình thằng cháu ngoại ra khoe !…

Ngay phía sau hè nhà cô Bảy là gia đình bác Hân, người Bắc, mới di cư vào Nam được gần năm naỵ. Bác trai độ bốn mươi tuổi nhưng gầy còm, mặt mũi nhăn nheo như trái táo khô. Con trai lớn nhứt mới mười sáu và đứa út bảy tuổi. Cả nhà từ lớn tới nhỏ cộng thêm hai người thợ suốt ngày đánh vẹc ni đàn. Đủ thứ: guitare, mandoline, violon. Chỉ đánh vẹc ni thôi, xong rồi đem giao chỗ khác. Vì vậy hể mở cửa sau là nghe “nồng nàn” mùi vẹc ni, bắt nhức cái đầu ! Mai không hiểu sao cả nhà bác Hân có thể hít thở cái mùi khó ngửi này quanh năm ngày tháng? Chị Thơ nói thì quen lỗ mũi chớ sao. Giống như bác ba gái nhà mình ghiền dầu cù là, lúc nào cũng thủ một chai trong túi áo. Bác Hân trai mắc bịnh suyển. Đôi khi đang làm, bác ngưng tay, vói lấy cái điếu cầy rít thuốc lào ròng rọc, sau đó lại nổi cơn ho sù sụ, cái lưng cong như con tôm luộc! Bác Hân gái hiền, cũng ốm o, hàm răng trên hô, chìa ra khỏi cặp môi dày lúc nào cũng sẵn sàng toét ra cười. Tội nghiệp bác, tối ngày chúi đầu trong bếp nấu ăn cho chồng con và đám thợ.

Cạnh bác Hân, tức ngay sau hè nhà Mai, chỉ cách cái sân rộng độ ba thước là nhà bà cụ Hiền. Cụ cũng khoảng sáu mươi, người nhỏ bé ( bây giờ gọi những người sáu mươi bằng cụ dám bị vác chiếu ra tòa vì tội… phỉ báng!). Tóc còn đen mượt, được vấn trong chiếc khăn nhung đen. Lần đầu, Mai giựt mình khi thấy cụ cười khoe hai hàm răng đen thủi đen thui. Mai tưởng cụ bị sâu răng, nhưng sau mới biết tại cụ nhuộm. Theo phong tục ngoài Bắc, đàn bà phải răng đen mới đẹp. Hổng giống “người Việt” mình, răng trắng chừng nào đẹp chừng nấy, má nói. Cụ có một người con duy nhứt là cô Lành, trắng trẻo, mảnh khảnh, trái với ông chồng tên Thịnh, mang lon trung sĩ, nghe đâu lớn hơn cô cả một con giáp. Chú Thịnh to lớn, mặc đồ nhà binh đầy vẻ oai vệ. Có lần cụ than với má :

-Khổ lắm bà ơi. Thân tôi góa bụa, lại chỉ có một mụn con gái, không ở với nó thì ở với ai ? Ông rể thì suốt ngày lầm lầm, lì lì không nói một lời, nên mình cũng chẳng biết nó thương hay nó ghét. Thôi thì cứ cắn răng mà chịu!

Nói xong cụ rơm rớm nước mắt. Đều đều, sáng sớm cụ bưng một thúng xôi bắp nóng hổi, đi một vòng vô xóm trong độ hai tiếng đồng hồ là hết nhẵn. Thú thật cho tới bây giờ Mai cũng chưa hiểu tại sao người Bắc kêu xôi bắp là xôi lúa? Có lần Mai ngây thơ hỏi: cụ ơi, lúa làm sao mà nấu thành xôi được hả cụ ? Cụ cười khoe hàm răng đen nhánh :

-À, thì từ xưa người ta vẫn gọi thế!

Nhà cụ còn một nhân vật mà Mai rất thích là chú Phong, em họ chú Thịnh. Chú Phong thuộc loại bạch diện thư sinh, tuổi chỉ độ ba mươi, ăn nói duyên dáng. Đôi khi chú qua nhà Mai chơi, gặp bữa cơm, má mời:

-Mời chú Phong dùng ba hột cơm với gia đình tui cho vui.

Chú giả bộ sửng sốt:

-Trời, bà chị chỉ mời em đúng có ba hột cơm thôi à? Chưa đủ cho em nhét kẽ răng nữa là!!

Cả nhà ai cũng cười má, vì tuy ở Saigòn mấy năm rồi mà vẫn không bỏ được cái câu “ăn ba hột cơm cho chắc bụng”. Ba nói ba hột cơm của má bây chắc là ba hột cơm Thạch Sanh! Cụ Hiền kể cho má nghe hồi còn ngoài Bắc, gia đình chú Phong ở dưới quê giàu lắm. Chú bị tảo hôn nên mới lên mười đã bị nhà cưới cho một cô vợ tới hai mươi cái xuân xanh. Lúc hết tiểu học, chú phải lên Hà Nội ở trọ để học tiếp. Mỗi lần về quê chơi trở lên, cô vợ có phận sự phải theo hộ tống ông chồng hỉ mũi chưa sạch này. Có điều rất mất mặt bầu cua là chú đi vé trẻ con và cô vợ thì phải mua vé người lớn. Khỏi nói, với làn sóng di cư năm năm tư, chú rất hồ hởi đơn ca bản: Tung cánh chim tìm về tổ… khác. Chú âm thầm theo gia đình chú Thịnh xuống Hải Phòng lên tầu há mồm đi một lèo vô Nam.

Khít vách nhà cô Bảy Huệ là gia đình cô Tư Kim Anh, em bà con của thiếm Ba Lâm, chủ tiệm cà phê kế nhà Mai. Cô Tư ốm yếu xanh xao, lúc nào cũng buồn rười rượi ! Chớ vui sao đựơc mà vui ? Mới ba mươi hai cái xuân xanh mà cô đã phải “quản lý” một đàn con bảy đứa! Con Mỹ Lan lớn nhứt lên mười và thằng cu út mới biết bò. Ông chồng lính kín của cô tối ngày nồng nực mùi rượu, lại mắc chứng bịnh ghen kinh niên. Đi làm thì thôi, về nhà là ổng kiếm chuyện gây gỗ, đánh đập cô rất tàn nhẫn. Tiếng chưởi bới, la hét, khóc lóc từ nhà cô vọng ra thường lắm. Mới đầu chú thím ba Ba Lâm còn nóng ruột em, chạy qua can gián, nhưng bị Ông em rể trời đánh này “xực” luôn:

-Bộ anh chị là đồng lõa của con vợ tui hay sao mà binh nó? Muốn ở tù rục xương hả ?

Chú thím đành phó mặc cô em với định mệnh đau thương ! Mai có gặp cái thằng cha ác ôn đó vài lần, mà lần nào cũng thấy cặp mắt, chắc là đỏ ngầu, của chả dấu kỹ sau cặp kiếng đen, mặt mũi sần sùi coi rất dữ dằn, sặc mùi… lính kín !

Giữa tiệm cà phê chú Ba Lâm và nhà bác ba Đại là con hẻm chạy ngoằn ngoèo vô rất sâu trong xóm. Sở dĩ nó ngoằn ngoèo là vì bà con trong hẻm khi cất nhà không thèm theo một nguyên tắc nào cả mà tùy hứng, lồi ra thụt vô một cách rất “tự ro”. Vì vậy mà tất cả các con hẻm ở cái đất Sàigòn đều ngoằn ngoèo như những cái ruột gà! Phía mặt đường, ngay góc tiệm cà phê là giang sơn của bà Năm Hậu. Đối với Mai lúc đó thì bà đã già lắm rồi. Chiếc khăn rằn đỏ quanh năm trùm mái tóc bạc trắng. Khuôn mặt và hai bàn tay nhăn nheo, đen sạm vì suốt ngày dãi nắng, dầm mưa. Không chồng cũng chẳng có con, bà thui thủi một mình trong căn nhà lá ngay phía sau nhà bác Ba Đại và sống nhờ vào cái sạp hàng nhỏ xíu trước quán cô Ba Lâm. Cái sạp gỗ cao hơn mặt đường độ hai tấc. Trên đó bày đủ thứ mà trăm phần dầu là nhằm vào các bà, các cô và các đấng… nhi đồng: cóc được gọt vỏ, tỉa ra từng cánh để xơi cho lẹ, ổi mận, chùm ruột, me, soài sống… bên cạnh tô muối ớt giã đỏ tươi và tô mắm ruốt để chấm những thứ kể trên. Vài hũ kẹo bột, thèo lèo cứt chuột, bánh in, bánh tai heo… và cái món mà bà moi tiền tụi nhóc nhiều nhứt là món khô mực nướng. Từng miếng khô cắt vuông vức độ bốn ngón tay, được nướng trên lửa than. Than cháy đỏ đựng trong cái soong nhôm cũ móp méo thảm hại. Lúc chín tới, bà để lên trên cái thớt me dày cộm, rồi dùng cái búa nhỏ đặp nhẹ cho tới khi miếng khô mực tơi ra, sau đó mới phết lên trên một lớp tương ớt mỏng. Chèn đét, mới hồi tưởng lại đã chảy nước miếng ! Tội nghiệp bà, bữa nào nắng ráo thì khá, những hôm mưa dầm, chẳng có ma nào mua, lại còn bị nước mưa tạt vô ướt nhẹp, phải dọn hàng về sớm. Phần lớn số tiền má cho Mai đều chạy tuốt vô túi bà năm Hậu qua những trái cóc, ổi, khô mực nướng. Phần còn lại nộp mạng cho cái xe nước đá nhận trước nhà con Bích Thủy. Má cấm không cho Mai chơi với nhân vật này vì trên đầu nó có nuôi khoảng… một triệu con chí ! Chỉ cần vén một nhánh tóc lên thôi, là cả một sư đoàn chí đực, chí cái, chí mén rơi xuống ào ào như sao sa lá rụng ! Về sau nó phải cạo trọc đầu mới thanh toán nổi cái đám chí khổng lồ đó. Vậy mà ở trường, thầy nào, cô nào cũng cố gắng nhét cho bằng đựơc vô đầu đám học trò vô tội cái câu: ở đời có… chí thì nên ! Hay có lẽ tại má chưa từng nghe câu này nên mới cấm Mai không được có chí? Hỡi ơi bà đâu có biết cái hậu quả tai hại Mai phải gánh chịu là cho tới bây giờ, Mai chẳng có một ly ông cụ ý chí nào hết. Làm cái gì cũng bỏ dỡ nửa chừng! Phải chi hồi nhỏ…

Buổi tối, khi đèn đường bắt đầu bật sáng, không biết từ đâu một chiếc xe mì được đẩy tới trấn thủ ngay phiá trước nhà bác Ba Đại, dưới tàn cây trứng cá. Bao giờ cái tiếng tắc xịt, tắc xịt của hai thanh gỗ cũng vang lên từ xa, trước khi bóng dáng chiếc xe mì xuất hiện. Mùi thơm từ mấy thùng nước lèo xông lên điếc mũi. Chiếc xe đẹp hết ý. Bên trên những thùng nước lèo và dưới cái mái nho nhỏ che mưa nắng là một giàn kiếng có bốn mặt. Một mặt được vẽ sự tích Tề Thiên Đại Thánh – Một mặt vẽ sự tích Tiết Đinh San cầu Phàn lê Huê và hai mặt nhỏ hai bên chỉ vẻ chim chóc, hoa lá, tất cả đều tô mầu sắc rực rỡ. Chủ nhân là chú Woòng, người dong dỏng cao, trạc độ ba mươi ngoài, trên môi lúc nào cũng có sẵn nụ cười cầu tài, tay thì xóc mì lẹ như người ta múa kiếm. Mỗi lần anh Hai Răng vô thăm bác Ba đều đựơc đám em út “queo – cơm” (welcome) hết mình, vì mười lần hết chín anh cho phép “xực” mì thả cửa.

Tới trễ hơn xe mì một chút là gánh cháo huyết của một ông Tàu già. Mai không biết tuổi, nhưng thấy ông già lắm, lại ốm yếu hom hem. Tuy vậy tiếng rao cháo… huy… ết… ết… của ổng còn vang rất xa. Cho tới bây giờ, Mai chưa được ăn lại một tô cháo huyết nào ngon như những tô cháo huyết của Ông Tàu già ngày xửa ngày xưa. Những hạt gạo trắng ngần, nở bung, đặc sánh lại với nhau. Những miếng huyết màu đỏ sậm không bao giờ vỡ vụn khi cháo bị khuấy lên, mềm dịu trên đầu lưỡi. Cái kéo trong tay ông cắt xầm xập những miếng dầu cháo quẩy vàng rợm, dòn tan lẹ thoăn thoắt. Rắt chút tiêu, thêm chút hành lá đã có một tô cháo huyết thơm ngon, béo ngậy dù chẳng có một miếng thịt nào…

Sau này nghĩ lại Mai thấy thiệt hú vía. Vì ngoài hai cái địa danh rất ư là bất lợi : ngã Ba Chú Ía và ngã Năm Chuồng Chó, ba má lại chọn đúng cái ngã Tư Bình Hòa để cư ngụ. Giống y như tên, cái xóm nhỏ của Mai thiệt là hiền lành, dễ thương. Ngoài cái ông lính kín say sưa và hay ghen ẩu kia, mọi người đối xử với nhau rất thân tình. Ngay cả cô Bảy Huệ, tuy mang tiếng làm bé ông Kiện mà cả xóm cũng không ai nhìn cô bằng cặp mắt khinh khi rẻ rúng. Mai cũng không hề thấy chuyện trộm cướp xảy ra lần nào. Chỉ có một lần cả xóm náo loạn vì cô Loan con bà Ba Trà Huế ở ngay phía sau nhà bác Đại bị đánh ghen. Cô có một đời chồng nhưng người này bỏ vô bưng theo Việt Minh. May mắn chưa có mụn con nào nên cô về ở với mẹ. Bà ba có sạp bán nước trà huế dưới chợ Bà Chiểu, nhưng cô Loan lại theo người quen đi buôn hàng chuyến miệt Ban Mê Thuộc. Đi buôn lâu ngày cô cặp với một anh tài xế xe hàng. Mấy ông này phần lớn thuộc giống đa tình. Mấy bà lại muốn lợi dụng chở hàng vừa nhiều vừa rẻ, nên hai bên đều sẵn sàng kẻ cho người nhận. Vui vẻ cả làng!

Trung bình một tháng cô Loan đi buôn chừng hai ba chuyến. Mỗi chuyến độ năm ngày. Thời gian còn lại cô ở nhà hoặc ra quán phụ mẹ chút đỉnh. Khi nào ông bồ cô tới hú hí thì hai người đóng cửa ở lì trong nhà suốt ngày. Cả xóm ai cũng biết vì ông ta tới bằng chiếc xe mô tô, máy nổ bành bạch rùm trời đất. Một bữa nọ Ông ta vừa tới độ nửa giờ thì một đám ba bà trên dưới ba mươi tuổi, mặt mày hầm hầm đi vô hẻm. Tới trước cửa nhà cô Loan, nhìn thấy chiếc xe mô tô thì một bà nói đúng chỗ này rồi. Chắc chắn thằng khốn nạn đó đang hú hí với con ngựa bà ở trỏng. Chị em, tụi mình tiến vộ! Vừa nói bà này vừa đạp cửa rầm rầm, miệng réo tên chồng và tình địch chưởi um sùm. Nhà bà ba Trà Huế vách bổ kho, mái lá. Cánh cửa bằng cây thô sơ coi bộ chống không được mấy lăm hơi. Cả xóm nghe ồn ào bu lại coi đông nghẹt. Bỗng cánh cửa mở bất thình lình, một người đàn ông đi chân đất, mình trần, mặc quần xà lỏn, tay ôm áo sơ mi và cái quần tây chạy ào ra, vẹt mấy người đang bu trước cửa, phóng lên chiếc mô tô giông mất. Mấy bà đánh ghen bất ngờ phản ứng không kịp đành để tên gian phu cao bay xa chạy. Bắt tên này không được họ bèn trút giận lên đầu con dâm phụ. Vậy là a lê hấp ba bà Hoạn Thư xông vô nhà đè cô Loan xuống đánh một trận tơi bời. Mái tóc dài đẹp đẻ bị xởn nham nhở như người bị đau ban mới dậy! Lối xóm còn xầm xì với nhau là cô Loan bị mấy bà chằng lột trần truồng, xát muối ớt vô… Vì họ nghe bà vợ bị cắm sừng la lớn sặc mùi thù hận: tưởng cái của mày dát vàng dát ngọc gì mà thằng chồng tao mê đắm mê đuối. Trận này bà cho mày tởn tới già, hết dám quyến rũ đàn ông. Và tiếng thét đầy sự đau đớn của cô Loan khiến mọi người nổi da gà, nhưng không ai dám vô can. Khi bà Ba hay tin tất tả chạy về thì chỉ gặp cô con gái nằm trên giường, thân thể bèo nhèo như chiếc mền rách. Sau trận bị đánh ghen tơi bời này, cô Loan mắc cỡ bỏ xóm đi luôn.

Khi cô út của Mai dọn nhà ra Nha Trang buôn bán, cô nhường cái tiệm tạp hóa của cô lại cho má trông coi. Ba má Mai bán căn nhà ở Bình Hòa dọn về Bến Chương Dương, gần nhà đèn Chợ Quán. Mai không thích lắm, vì cái tiếng u u từ nhà đèn phát ra rất là khó chịu. Má nói riết rồi cũng quen. Tụi bây thử tưởng tượng những người không nhà cửa ở dưới gầm cầu chữ Y, sát bên nhà đèn, họ còn chịu được huống chi mình ở xa gần hai cây số.

Thỉnh thoảng cả nhà trở về xóm cũ thăm bác Ba Đại. Bác gái “ráp bo”(rapport): ông Kiện đã ly dị bà vợ, chia đôi số xe đò và bây giờ chánh thức ở luôn với cô Bảy Huệ. Để đền đáp cái tình sâu nghĩa nặng này, cô sanh thêm cho ổng hai đứa con gái nữa. Hèn chi đi ngang nhà cũ thấy đã lên thêm một từng lầu. Thôi cũng mừng cho cổ. Bà cụ Hiền theo con rể đổi về miệt Hậu giang, mất liên lạc luôn. Chú Phong nhứt định ở lại Sàigòn, tiếp tục cuộc đời độc thân vui tính. Gia đình bác Hân làm ăn khấm khá, đổi ra căn nhà ngoài mặt tiền đường, có trương bản hiệu đàng hoàng và hai ông bà cũng phát tướng, mập mạp hơn xưa.

Cô Tư Ánh sau lần sẩy thai vì bị Ông chồng lính kín “âu yếm” hơi nặng tay, đợi thằng chả đi làm, cô dẫn bầy con bảy đứa trốn luôn về nhà cha mẹ cổ ở tuốt dưới Trà Vinh. Ông ta tìm xuống, năn nỉ cách mấy cổ cũng nhứt định hát bài “Kiếp nào có yêu nhau” của nhạc sĩ Phạm Duy, trong đó có những câu rất hợp với cô như: “Đừng nhìn nhau nữa anh ơi – Xa nhau đã xa rồi, quên nhau đã quên rồi – Đừng « tìm » chi, đừng tìm chi nữa anh ơi… !” Ông ta đành trở về Sàigòn tiếp tục tìm vui trong men rượu đắng và trút mối hận lòng bằng cách « hỏi han sức khỏe » một cách tận tình mấy người bị lính kín bắt…

Phần bà Năm Hậu sau một trận sưng phổi nặng vì trúng mưa, tuổi già sức yếu chịu không nổi cũng đã từ trần. Hàng xóm láng giềng kẻ ít người nhiều, đóng góp lại, làm cho bà một cái đám tang nho nhỏ. Vậy cũng xong một đời cô quạnh ! Chỉ có xe mì chú Woòng và gánh cháo huyết của ông Tàu già vẫn bền theo năm tháng…

Ôi cái xóm nhỏ thân thương. Với muôn vàn nhớ nhung, nhưng Mai không thích sống lại cái cảnh ngỡ ngàng của Từ Thức, khi giã biệt chốn Thiên Thai để trở lại làng xưa… Biết bao vật đổi sao dời. Mai muốn cái Xóm Bình Hòa nhỏ xíu muôn đời là một kỷ niệm long lanh trong tâm tưởng của mình mà thôi…!!!…/.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Bắc Kinh cũng tự bôi nhọ bằng bài bản ’khủng bố’

Ngô Văn

Khi biết được cộng đồng người Uyghur trên khắp thế giới dự định sẽ tổ chức Hội nghị Đại biểu toàn thế giới tại Tokyo trong tháng 5 này, nhà nước Cộng sản Trung Quốc đã áp lực mạnh chính phủ Nhật phải tìm cách ngăn cản, không cho tổ chức. Dân Uyghur hay còn gọi là người Ngô Duy Nhĩ đa số sống tại vùng Tân Cương, một quốc gia đã bị Trung Quốc xâm chiếm từ thời nhà Thanh. Tuy nhiên, hiểm họa bị xóa sạch văn hóa và bị kỳ thị tàn tệ đang ngày càng gia tăng dưới sự cai trị của chế độ Cộng sản Trung Quốc.

Nhiều văn thư chính thức từ bộ Ngoại giao và cả bộ Công an Trung Quốc đuợc gởi đến chính phủ Nhật Bản yêu cầu không cấp chiếu khán nhập cảnh cho các Đại biểu Uyghur ở các nước vào Nhật, đặc biệt là bà Rebiya Kadeer, đương kim Chủ tịch Cộng đồng Uyghur hải ngoại, với lý do tất cả những người đó đều là khủng bố và cả cơ chế đại biểu Uyghur hải ngoại là một tổ chức khủng bố.

Bộ Ngoại giao Nhật chính thức gởi văn thư trả lời rằng Nhật Bản đã cập nhật danh sách khủng bố mới nhất từ cơ quan Cảnh sát Hình sự Quốc tế (ICPO), nhưng không thấy tên bà Chủ tịch Rebiya Kadeer hay tên những đại biểu khác trong danh sách đó. Vì vậy chính phủ Nhật không thể từ chối cấp visa nhập cảnh cho họ. Tổng nha Cảnh sát Nhật cũng gởi văn thư trả lời cho bộ Công an Trung Quốc biết rằng ngay cả trong trường hợp Hội nghị Đại biểu Cộng đồng người Uyghur hải ngoại có lên tiếng chỉ trích chính phủ Nhật Bản đi nữa, thì cảnh sát Nhật sẽ vẫn không ngăn cản hay cấm tổ chức, vì Hiến pháp và luật pháp Nhật tôn trọng quyền phát biểu, quyền hội họp, và quyền biểu tình ôn hòa.

Tại Bắc Kinh, trong Hội nghị định kỳ giữa lãnh đạo ba nước Trung-Nhật-Hàn, hôm chủ nhật, ngày 13 tháng 5, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trực tiếp yêu cầu Thủ tướng Noda ra lịnh không cho Cộng đồng người Uyghur tổ chức Hội nghị Đại biểu tại Tokyo. Theo tường thuật của các viên chức có mặt tại chỗ, Thủ tướng Noda trả lời rằng mặc dù hiện nay ông là Thủ tướng, đứng đầu ngành Hành pháp Nhật Bản, nhưng ông cũng không thể đứng trên Hiến pháp và luật pháp Nhật Bản, và bà Rebiya Kadeer cũng như các Đại biểu khác của Cộng đồng Uyghur hải ngoại không có trong danh sách khủng bó của ICPO. Một số bình luận gia khen ngợi ông Noda đã nhẹ nhàng vạch rõ cho họ Ôn thấy sự khác biệt giữa một chính phủ dân chủ pháp quyền và một nhà nước độc tài đảng trị.

Có lẽ cũng nhận ra và thấm thía câu trả lời đó, các lãnh đạo Trung Quốc quyết định hủy bỏ cuộc hội đàm riêng giữa Thủ tướng Noda và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, được dự tính diễn ra ngay sau Hội nghị. Thủ tướng Noda thoải mái leo lên máy bay về nước. Khi được hỏi về lý do hủy bỏ cuộc hội đàm với ông Hồ Cẩm Đào, phát ngôn viên chính phủ Nhật chỉ trả lời rằng do chương trình làm việc của Thủ tướng Noda quá bận rộn.

Trở lại với Hội nghị Đại biểu Cộng đồng Uyghur hải ngoại. Bà Chủ tịch Rebiya Kadeer đã đến Tokyo hôm chủ nhật 13 tháng 5. Hội nghị quy tụ hơn 125 Đại biểu ở khắp nơi trên thế giới, Trong buổi khai mạc Hội nghị, bà Kadeer nói rằng:

“Trong những năm qua, chúng tôi đấu tranh yêu cầu chính quyền Cộng sản Trung Quốc phải tôn trọng các quyền căn bản của người Uyghur. Mặc dù người Uyghur đấu tranh ôn hòa nhưng luôn bị chính quyền Bắc Kinh đàn áp thẳng tay. Hiện nay người Uyghur ở Trung Quốc bị đối xử còn tàn tệ hơn cả thời 2009 [khi có các cuộc biểu tình lớn]. Theo thông tin mới nhất mà đồng bào Uyghur ở Trung Quốc gởi ra thì bất cứ người Uyghur nào cũng có thể trở thành đối tượng bắt bớ của chính quyền Bắc Kinh. Người Uyghur bị gạt ra ngoài lề xã hội bởi chính sách đồng hóa, đưa người Hán đến định cư tại những vùng đất đã có bao đời nay của nguời Uyghur. Căng thẳng giữa người Uyghur và người Hán đã dẫn đến những cuộc đụng độ ở Tứ Xuyên, nơi có khoảng 9 triệu người Uyghur sinh sống. Để sống còn, bắt buộc dân tộc Uyghur chúng tôi phải đứng lên đấu tranh đòi hỏi chính quyền Cộng sản Trung Quốc phải tôn trọng nhân quyền, dân chủ cho đất nước. Có như thế mới mong lần lượt giải quyết được những mâu thuẫn giữa người Hán và các sắc dân thiểu số nói chung, và sắc dân Uyghur nói riêng. Đây là cuộc đấu tranh ôn hòa, đầy chính nghĩa nhưng rất quyết liệt. Vì vậy chúng tôi kêu gọi cộng đồng thế giới, trong đó có Nhật Bản, hãy ủng hộ cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này.”

Một số dân biểu, nghị sĩ quốc hội Ý, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật cũng như các tổ chức nhân quyền thế giới đã hiện diện tại Hội nghị để bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với công cuộc đấu tranh đòi nhân quyền theo phương thức bất bạo động của người Uyghur. Một Dân biểu Quốc hội Nhật thuộc đảng Dân chủ sau khi tham dự lễ khai mạc Hội nghị đã nói với các ký giả rằng: “Từ trước đến nay chúng tôi luôn ủng hộ tất cả các cuộc đấu tranh cho nhân quyền theo đường lối ôn hòa. Khi nhận được thiệp mời tham dự Hội nghị chúng tôi rất cảm kích, nhưng thú thực lúc đầu tôi dự định không tham dự để tránh chuyện chính quyền Trung Quốc đặt vấn đề, lôi thôi, phiền phức lắm vì chúng tôi thuộc đảng cầm quyền. Tuy nhiên, sau khi thấy các phản ứng quá thô thiển của Bắc Kinh, chúng tôi đã quyết định phải tham dự.”

Đến bao giờ giới lãnh đạo các nước độc tài như Trung Quốc và Việt Nam mới nhận ra các bài bản vu cáo “khủng bố” cứ đang ịn thêm các đốm nhọ nồi lên từng khuôn mặt đeo kính trắng, chải chuốt mượt mà và trông rất văn minh của họ?

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Hệ lụy

Blogger Thuỳ Linh

clip_image001Hy Lạp lâm vào khủng hoảng có thể dẫn đến vỡ nợ vào đầu năm 2010 mà nguyên nhân chủ yếu là do…“lừa đảo” và “bệnh thành tích”. Những năm trước khi thành lập Eurozone vào năm 1999, các nước ở châu Âu cố gắng giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 3% để gia nhập vào khối này. Theo các báo chỉ ra thì Hy Lạp thâm hụt nghiêm trọng nhưng lại báo cáo láo với châu Âu về con số thâm hụt của mình, cụ thể là: 2,5% vào năm 1998 và dự báo sẽ còn 1,9% vào năm 1999. Nhưng 3-2000 theo một tiêu chuẩn kế toán mới cho thấy thâm hụt thực sự của Hy Lạp năm 1998 là 3,2% và năm 2004 trong một báo cáo khác lại chỉ ra con số thâm hụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3%. Dưới áp lực của châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tính các trợ cấp thuế ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ. Bốn tháng sau đó, Hy Lạp thừa nhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6%. Và 3-2005, Hy Lạp “thành thật” thông báo thâm hụt năm 2003 là 5,2%.

Trong lần “thành thật” cuối cùng vào cuối năm đó, đã tăng lên mức 5,7%. Sau 18 tháng, số liệu thâm hụt năm 2003 tăng từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro. Châu Âu sau nhiều lần tranh cãi, cuối cùng 5-2010, EU và Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF thông qua khoản trợ trị giá 120 tỉ euro (tương đương 160 tỉ đô la Mỹ) trong ba năm tới nhằm giúp Hy Lạp vượt qua khủng hoảng nợ. Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp đang phải đối mặt với khoản nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính phủ vào ngày 19-5-2010. Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợ phải trả trong năm 2010 là 16% tổng nợ. Mà Hy Lạp chỉ là quốc gia nhỏ ở Nam Âu, với dân số khoảng 11 triệu người, có thu nhập bình quân đầu người khoảng 17.440 đô la Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10,2%.

Còn Việt Nam thì sao?

Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế thì “nợ công của Việt Nam hiện nay đang ở mức 54,3% GDP với tốc độ tăng trưởng nợ hàng năm trên 15%. Với tốc độ này, nợ công của Việt Nam sẽ vượt 100% GDP, một con số đáng báo động đối với một nền kinh tế nhỏ đang phát triển và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ”. Và, “theo The Economist Intelligence Unit, nợ công  của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm”. Và, “năm 2011, dự kiến trả nợ 86.000 tỉ đồng, chiếm 12,5% tổng  thu NSNN. Năm 2012 sẽ phải trả 100.000 tỉ đồng, chiếm 13,5% tổng thu NSNN, một con số không hề nhỏ trong quy mô khiêm tốn của NSNN hiện nay. Trong khi nợ công của Thái Lan 44,1% GDP và dự trữ ngoại hối là 176 tỉ USD;  Indonesia, Malaysia nợ công 26,9% GDP, Philippines là 47,3%”. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ cho biết thêm: tính đến 31/12/2010, tỷ lệ nợ Chính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài là 42,2%, nợ công là 57,3%. Trong kế hoạch trình Quốc hội, ước tính đến 31/12/2011, nợ công là 54,6%, đến 31/12/2012 là 58,4% GDP. Chỉ số này được tính trên cơ sở dự kiến kịch bản tăng trưởng 6%, nếu như kịch bản tăng trưởng đạt được mức 6,5% tỷ lệ nợ công thấp hơn đáng kể. Nhưng mấy tháng vừa qua tăng trưởng của Việt Nam đâu như chỉ hơn 4%? Còn theo đại biểu quốc hội Trần Du Lịch, nợ nước ngoài của Việt Nam hiện tương đương 50 tỉ USD, lớn gấp 3 lần so với dự trữ ngoại hối (khoảng 14-15 tỉ USD). Nếu tiếp tục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%).

Giả sử con số này là chính xác thì bức tranh đã không mấy sáng sủa. Nếu rơi vào căn bệnh “thành tích” và “nói dối không ngượng miệng” như Hy Lạp, cộng với tính không minh bạch vốn có thì thực tế phải thế nào? Không biết trong số nợ công này đã tính số tiền 4,5 tỷ đô la mà Vinashin nợ chưa? Các quả đấm thép dưới sự điều hành của Chính phủ (EVN, Than-khoáng sản, Ngân hàng…) gần đây bị bóc trần một phần sự thật là thua lỗ và nợ đầm đìa liệu có được đưa vào con số nợ trên không? Nếu kể đến bức tranh ảm đảm của khủng hoảng kinh tế chưa hề có dấu hiệu giảm chứ đừng nói là chấm dứt thì ra sao? Sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp và đình trệ sản xuất sẽ đưa nền kinh thế VN đến bờ vực thảm hoạ chứ? Liệu Việt Nam có giống như Hy Lạp về nguy cơ vỡ nợ không?

Mình vốn không phải dân kinh tế nên đọc các con số này phải kiên nhẫn lắm mới không nổi cáu. Và nói dài dòng như trên để ngẫm nghĩ một điều khác…

Khi Hy Lạp chìa tay ra đề nghị các nước châu Âu cứu quốc gia họ thì giới tài chính hàng đầu châu Âu nhóm họp, thuyết phục lẫn nhau để đưa ra gói tài trợ 160 tỷ đô la trong vòng 3 năm với yêu cầu Hy Lạp “thắt lưng buộc bụng”. Nhưng Hy Lạp đáp lại nghĩa cử của châu Âu thế nào? Giữa tháng 5-2012 này, chính phủ Hy Lạp vẫn chưa thành lập được chính phủ vì bất đồng từ yêu cầu của châu Âu, tức là “thắt lưng buộc bụng” cho chi tiêu. Nhà lãnh đạo Alexis Tsipras của Liên minh các lực lượng cực tả (Syriza), về thứ hai trong cuộc bầu cử sớm tại Hy Lạp mới đây, khẳng định sẽ không tham gia bất kỳ chính phủ nào có ý định thực thi các điều khoản trong thỏa thuận cứu trợ tài chính quốc tế với Athens vì cho rằng thỏa thuận đó “quá nghiệt ngã” và đi ngược lại với ý nguyện của cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ cho đảng này. Trong khi đó, các chủ nợ quốc tế khác cảnh báo Hy Lạp nước này buộc phải thực hiện các cam kết về cắt giảm chi tiêu, nếu không sẽ phải đối mặt với nguy cơ ra khỏi Eurozone. Hy Lạp đã tránh được việc rút khỏi Eurozone hai lần trong hai năm qua khi họ thương thảo được một thỏa thuận giải cứu về tài chính giá trị nhiều tỉ USD với EU và IMF để giúp cho Hy Lạp tránh vỡ nợ. Đổi lại Hy Lạp bị buộc phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc khổ đã gây ra tình trạng chống đối lan rộng trong xã hội. Dân Hy Lạp quen sung sướng giờ bắt chịu khổ nên nhất định không chịu. Lòng yêu nước của cư dân ở cái nôi văn minh nhân loại này không thể so sánh với dân Nhật. Vậy mà chính phủ họ đến giờ vẫn nhẫn nại thuyết phục…Bộ trưởng Tài chính Đức Wolfgang Schauble tuyên bố khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone) sẽ có thể đương đầu nếu Hy Lạp rút khỏi liên minh tiền tệ này. Bộ trưởng Schauble nói: “Chúng tôi muốn Hy Lạp vẫn nằm trong Eurozone. Song nước này cũng phải muốn như vậy và sẽ hoàn tất các bổn phận của mình. Chúng tôi không thể ép bất cứ ai. Châu Âu không dễ dàng chìm như vậy”. Eurozone đứng vững nếu Hy Lạp ra đi. Nguy cơ Hy Lạp bị “đuổi” ra khỏi Eurozone là nhãn tiền để châu Âu thoát khỏi gánh nặng của kẻ chỉ biết ngửa tay nhận tiền của người khác mà vẫn không biết trân quí lời khuyên của thiên hạ.

Lại nói đến Việt Nam…

Hy Lạp được các nước châu Âu chìa tay giúp đỡ khi bĩ cực và khối Asean dửng dưng với Philipine và Việt Nam khi phải đơn độc chống đỡ Trung Quốc cho thấy tinh thần “đoàn kết các nước Asean” thê thảm đến mức nào?. “Đáng tiếc là sự thiếu tương trợ đó có vẻ như đã là một cung cách bất thành văn của các nước ASEAN trong tranh chấp Biển Đông. Ngược dòng thời gian trong khoảng một năm vừa qua, chúng ta có thể thấy khi TQ giam cầm các ngư dân VN đánh cá tại vùng Hoàng Sa, không có nước ASEAN nào lên tiếng để ủng hộ một cách giải quyết công bằng. Khi TQ gây sức ép lên các hoạt động dầu khí của Philippines trong khu vực bãi Cỏ Rong, không hề có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Philippines. Khi TQ gây áp lực lên tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh nhằm khiến họ rút khỏi Lô 127 và 128, nằm giáp bờ biển đất liền Việt Nam, không có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Việt Nam. Khi tàu hải giám và các tàu đánh cá của TQ phá hoại thiết bị địa chấn của các tàu khảo sát Việt Nam, không có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Việt Nam. Khi tàu TQ dọa đâm vào tàu khảo sát cho Philippines tại bãi Cỏ Rong tháng 3/2011, không có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Philippines”. (Dương Danh Huy – Không còn ai để lên tiếng bênh vực cho tôi”- VNN).

EU và ASEAN có hai giá trị nhân văn khác nhau? Có quan điểm tiếp cận quốc tế khác nhau? Có cung cách tham gia và điều hành vào một tổ chức quốc tế với mục đích, quyền lợi khác nhau? Thật sự thất vọng về Asean…

Nhưng nói đi thì phải ngẫm lại mình.

Để được người khác hết lòng với mình thì không thể kêu gọi suông hay trông chờ lòng “từ thiện đoàn kết” vô điều kiện từ người ngoài trong khi không những không làm gì tốt cho thiên hạ mà còn toàn nghĩ xấu cho họ. Những cụm từ tưởng như vô thưởng, vô phạt: “bị các thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo”; “kẻ thù bên ngoài chống phá”; “phản động bên ngoài”…sẽ thấm dần vào cung cách hành xử của các nước dành cho VN. Không ai muốn nhận làm bạn một kẻ luôn coi họ là kẻ thù hay có ác ý. Không ai muốn quan hệ làm ăn, bảo vệ một kẻ trí thấp, ít tiền nhưng hãnh tiến vì có “bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí cách mạng kiên định và tầm nhìn chiến lược sáng suốt” và “phải khẳng định chế độ dân chủ ở nước ta là dân chủ xã hội chủ nghĩa” để cãi chày cãi cối với thang giá trị phổ quát về dân chủ, nhân quyền của nhân loại. Các cơ hội không chờ đợi. Người muốn đến kết bạn cũng không thể kiên nhẫn vô điều kiện. Nếu cứ tiếp tục sản xuất các Nghị quyết TW để thay cho Hiến pháp, Pháp luật miễn sao duy tu và giữ được càng lâu ý thức hệ cho quyền lợi của từng cá nhân và nhóm lợi ích như bây giờ thì cái ngày sắp sụp đổ như Hy Lạp đang đến gần…

Ngày đó thì sao?

Liệu VN có thể kêu gọi Asean giải cứu như Hy Lạp kêu gọi châu Âu cứu trợ?

Liệu Asean có chìa tay cho VN như Eurozone chìa tay cho Hy Lạp?

Có kêu gọi được “ý thức hệ” in tiền để trả giúp món nợ nần chồng chất kia?

Khi lâm nguy, Việt Nam kêu gọi ai giúp đỡ như Hy Lạp?

Thật đáng buồn một đất nước (chính thể) không thể gọi tên một bạn bè gần gũi thân thiết nhất, tin tưởng nhất, có thể chìa tay ra với nhau trong cơn hoạn nạn. Nhưng lại có rất nhiều kẻ thù cả hữu hình lẫn vô hình, dù chỉ bằng tên gọi…

Và đáng sợ hơn, có thể, chính quyền đang tự tạo ra kẻ thù của mình từ chính dân tộc, nhân dân họ bắt đầu bằng các Nghị quyết TW…

T. L.

Nguồn: buudoan.com

Posted in Uncategorized | Leave a comment